QUỐC CA VIỆT NAM.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo đọc “Giai Phẩm Xuân Đinh Dậu” 2017, của Sư Phạm Áo Nâu Đà Lạt, thấy và nghe bài ca Việt Nam Việt Nam quá hay nên DT copy, đưa lên trang nhà, mời Bạn cùng nghe, xúc động lạ lùng! Và tiếp theo là “Thư Cho Bé Sơ Sinh”, nhạc Võ Tá Hân, thơ BS Đỗ Hồng Ngọc. Mời Bạn click vào mũi tên để nghe.

Thân mến,

DTQT. 05/12/2018

**********

Tiếp theo đây là Cảm tác của Ngô Vân Quy nhân đọc

TRƯỜNG CA THÚ BẢY CỦA THI SĨ NGÔ MINH HẰNG

GỞI NGƯỜI BÊN KIA GIỚI TUYẾN, XIN ĐƯỢC VIẾT:  

BẢN TRƯỜNG THI KHÁC
GỞIKẺ THẮNG CUỘC”
CẢM NGHĨ CỦA “NGƯỜI THUA CUỘC”

Đọc thơ người chiều nay tôi bật khóc

Bởi từng câu, ngôn ngữ đọng nghiêng sầu

Khóc quê hương lịm chết giữa trời sâu

Ngày đổi chủ sang trang giòng sử Việt.

 

“Đôi dép râu, nón tai bèo dõng liệt

Một vắt cơm con cá chép “Gia Tài”

Anh bước vào khi phố chợ tàn phai

Từ rừng núi “đầu thai” tên Bộ Đội

 

Là con cháu Hồ, Chinh, Đồng, Giáp, Duẫn

Theo quân tàu làm giặc cướp miền Nam

Cướp quê hương gấm vóc giải lụa vàng

Nơi một thuở xóm làng là ngọc quí

 

Từ “năm bốn” tôi làm thân lưu lạc

Và “Bảy lăm” bỏ nước để mà đi

Ngoảnh nhìn quê sầu bi đang giẫy chết

Nghe tức tưởi máu hòa lên tim óc.

 

Trại “Cải tạo” người tử tù trai Việt

Những anh hùng oanh liệt bỗng sa cơ

Chiều tháng tư gãy súng có đâu ngờ

Cùng dân tộc đang trên bờ vong diệt

 

Tôi và anh có cùng nhau ngôn ngữ

Tiếng tôi là từ ngữ mẹ Việt nam

Còn của anh pha lẫn những quân hàm

Của Tàu Cộng ngàn năm ta chống giặc

 

Tôi và anh ngoài cách ngăn giới tuyến

Còn khác nhau trong ý nghĩ da vàng

Ở tuổi thơ tôi học sử trời Nam

Làm dũng tướng phải thương nòi giống Việt

 

Tôi được dạy mến yêu người đồng loại

Và giữ gìn đất tổ mảnh vườn thiêng

Những ruộng vườn bờ cõi của hai miền

Nam, Trung Việt là máu hồng tô thắm lại

 

Ngày đi lính tôi ra ngoài biên ải.

Giữ quê mình không quản ngại âu lo

Đối diện anh, người mang nặng Hỏa lò

Giết Mỹ Ngụy cho thỏa lòng ganh ghét

 

Anh Bộ Đội, chị mang thân hộ lý

Những Công an tên du kích gài mìn

Một thuở nào nay ăn trước ngồi trên

Gieo thống khổ lan tràn trên sông núi

 

sách thánh hiền chưa một lần học tới

Nói làm chi chữ Việt của giống nòi

Tiếng nói “Lai Căng” chữ Việt lầm sai

Đau hổ thẹn cho ngàn năm văn hiến

 

Không học chữ thì làm sao hiểu biết

Mà nực cười lãnh đạo cả toàn dân

Bởi lũ Ngu coi rẻ cả thánh thần

Cả tôn giáo vô thần mà đảng gọi

 

Một tất đất lấy máu hồng mà giữ

Đó là lời giáo huấn của tiền nhân

Của bao đời chống lại giặc ngoại xâm

Từ phương Bắc xua quân về chiếm giữ.

 

Gương Hưng Đạo, gương anh linh Hào Kiệt.

Đã thấm nhuần vào máu Việt hùng anh

Của bao đời Lê, Lý, Nguyễn Trần

Cho bờ cõi mở dài thêm giới tuyến

 

Vậy từ đâu sanh ra loài qủi dữ

Đội lốt người theo giặc cướp quê hương

bán con em, bán từng mảnh ruộng vườn

Bán sông núi biển vào sông Cửu mẹ

 

Tiếng thét của em, anh pha giòng lệ

Máu người dân nhỏ xuống giữa cường toan

Phố phường xưa thôn xóm thuở địa đàng

Còn đâu nữa trăng vàng trên quê nội

 

Mái trường thương tà áo dài tha thướt

Đã xa rồi xanh mướt buổi hồng hoa

Một miền nam trù phú với lụa là

Của thanh tú một thời nhung gấm nhỉ.

 

Như Hổ nhớ rừng còn đâu thân tráng sĩ

Những tung hoành ngang dọc cả trời nam

Yêu quê hương tôi lội suối băng ngàn

Mong chận giữ giặc tràn về thôn xóm

 

Thôi xa rồi ngồi đây nghe nắng đón

Chút gió về mà tủi nhớ tháng ngày xưa

Tên Chinh Phu thất trận buổi giao mùa

Trên Quốc lộ giày vứt bỏ lại

 

Thắp nén nhang nghe lòng đau quằn quại

Lạy mười phương cho dân đứng vùng lên

Cứ mỗi người mang được một đạn viên

Như “Ký con” thuở nọ giữa hai miền

Quốc Dân Đảng để làm nên Huyền thoại

  

Thứ ba, ba mươi mốt tháng bảy 2018

Bình Long Ngô Vân Quy

Advertisements

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 7)

Cùng Bạn Đọc,

     Bây giờ Bạn thấy còn muốn đọc tiếp nữa không, đây là bài tiếp theo thứ 7, Dã-Thảo vẫn còn viết nữa chưa dừng được. Bên cạnh đó DT còn đọc tin tức thời sự,  email và trả lời thư cho Bạn nữa, vì thế cho nên nếu có post lên chậm xin Các Bạn cảm thông, chờ nhé. Thân mến, DTQT. 07/12/2018.

Mời Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi”

     Tôi đến Úc với hai bàn tay trắng, học mười tuần Anh văn xong là phải lo đi tìm việc vì tôi còn bao nhiêu việc phải cần đến tiền. Nếu tôi chỉ sống với số tiền trợ cấp thì sẽ không đủ để lo cho các con, cũng không thể nào lo cho Bố của các con và chị em còn bị kẹt lại. Tôi và các con đi chợ ngày thứ bảy, để tiếc kiệm tiền chúng tôi đi chợ Flemington, chỉ mở cửa ngày thứ bảy và ngày chủ nhật, ngôi chợ đã giúp cho chúng tôi rất nhiều vì giá cả thật rẻ so với các cửa hàng bày bán ở các khu phố bên ngoài. Bốn mẹ con mang về không thiếu một món cần thiết nào cho các bữa ăn của chúng tôi. Trái cây, chúng tôi mua từng thùng chứ không phải từng ký, một thùng nho, một thùng cam, một thùng xà lách sáu bắp, ăn cả tuần không hết. Trái cây bán, chất cao đầy chợ không thiếu thứ nào cả, tha hồ lựa chọn. Thịt cá cũng rẻ và tươi hơn ở tiệm bán lẻ ở ngoài nhiều lắm. Rau cải từ các nông trại chở thẳng đến chợ, do chính chủ trồng đem ra bán nên trông còn tươi rói, thấy mà ham. Chỉ đứng nhìn cảnh chợ sinh hoạt, người bán rao hàng mời khách, người mua đủ các sắc tộc, đủ màu da, lên xuống rộn ràng, ai cũng vui vẻ vì thấy mình mua được những thức ăn vừa ý mà vẫn thích hợp với túi tiền của một công nhân. Tôi cũng thấy mình hòa theo và quên đi nỗi nhọc nhằn suốt tuần làm việc lao động bằng tay chân trong hãng xưởng. Vì thế cho nên đi chợ Flemington gần như là thú vui cuối tuần của chúng tôi vậy. Tôi thấy thật thoải mái thích thú nhìn chợ đông đúc đầy ắp kẻ bán người mua vô cùng nhộn nhịp. Con tôi lớn như thổi giày dép phải thay hoài vì chân chúng nó mỗi ngày mỗi lớn ra, có lẽ tôi phải cảm ơn cái Chợ Flemington này thật nhiều mới được.  

     Vì xưởng nhiều việc nên tôi thường nhận làm giờ phụ trội để kiếm thêm tiền rồi dành dụm để mua hàng gởi về Việt Nam cho Ông Bà Nội của các con. Địa chỉ để liên lạc về Việt Nam là nhà của người anh chồng, đó là địa chỉ mà tôi biết ở Sài gòn là có thể liên lạc được với chồng tôi mà thôi, Cha Mẹ chồng tôi cư ngụ tại đó. Tôi liên lạc được với chị tôi ở Huế và em trai tôi ở Sài gòn nên tôi càng siêng năng làm việc nhiều hơn. Chồng Chị Mai tôi đi tù cải tạo, Chị bị cho thôi việc nên không còn làm việc cho nhà Bảo Sanh Bệnh Viện Huế nữa,Chị phải kiếm tiền nuôi con bằng cách chạy theo các chuyến xe lửa buôn bán lậu. Thời buổi thật não nùng, buôn gì cũng lậu hết: gạo lậu, thịt lậu, nước mắm lậu, khiến tôi nhớ lại hồi chưa vượt biên tôi và con gái lớn đi buôn lậu mỡ heo và gạo từ Sài gòn về Vũng tàu mà ngán ngẫm cho cuộc đời. Chỉ có mười ký gạo, mười ký mỡ mà dấu trước dấu sau không thôi công an thấy được là bị tịch thu ngay, mất luôn cả vốn lẫn lời.

     Em trai tôi cùng vợ con kéo nhau đi vượt biên, không thành công mà còn bị ở tù, tiền bạc mất hết. Vợ em sanh con trong tù, thấy thê thảm quá nên được tha về. Sanh con mà không có gì ăn, chỉ ăn cháo cầm hơi, nên em đưa vợ con vào quê vợ, Sài gòn, ở nhờ bên vợ. Em đi bán vé số, thảm thương chưa! Vợ mang con thơ ra ngồi ở khu chợ trước mặt nhà bán buôn lặt vặt kiếm sống qua ngày. Nhận được tin em, có địa chỉ rõ ràng, tôi gởi ngay một thùng quà đúng như ý em muốn. Em nhận được quà mừng một, tôi mừng mười. Nỗi vui kéo dài cả tháng!

     Em tôi ở Sài gòn như ở lậu vì chưa có “hộ khẩu”, nên gởi quà về cho em là phải gởi qua tên của ông Bố vợ, rồi sau lần đó đến lần gởi khác, em tôi lại phải nhờ cô em vợ. Đi lãnh hàng vất vả lắm, em tôi nói vậy, nên em phải “chạy” để có “hộ khẩu” riêng mới có thể đứng tên lãnh hàng được. Rồi em tôi ra một cái list dài để tôi mua hàng gởi về cho em có tiền “chạy” hộ khẩu. Thời điểm đó là năm 1980, sau 5 năm sống với cộng sản con người trở thành cái máy chạy tiền bằng đủ mọi cách. Thời gian đầu chính quyền cộng sản chỉ cho phép gởi quà chứ chưa cho gởi tiền, và hàng hóa rất khan hiếm tại nội địa vì lệnh cấm vận. Hiếm là phải, vì người ngoài Bắc vào mua và người trong Nam chỉ biết bán hết của cải để có cái ăn, Việt Nam gặp cảnh đói nghèo và khủng hoảng về kinh tế trầm trọng bởi chính sách bế quan tỏa cảng của chính phủ, nội bất xuất, ngoại bất nhập.

     Tôi nhận được tin chồng tôi đã được thả về qua thư của chị Liên, chị ruột của chồng tôi, tin cho tôi hay anh đã lập gia đình khác, không bao lâu sau khi được trả lại tự do, với một cựu nữ hướng đạo sinh, cô ta là một trong các sói già mà các con tôi là những sói con ngày nào (Anh là một trong các trưởng hướng đạo tại Vũng Tàu ngày trước). Tuy thế chúng tôi vẫn có thư từ qua lại, giúp đỡ anh là việc tôi phải làm dẫu có thế nào đi nữa. Tôi rất thông cảm cho hoàn cảnh khó khăn của anh ở Việt Nam nên tôi không giận hờn trách móc gì anh hết, tôi chỉ thấy buồn và thất vọng về anh rất nhiều vì giữa chúng tôi đã mất hết niềm tin đối với nhau. Và tôi, phải nhận trả một cái giá rất đắt cho cuộc vượt biên này.

     Rồi đứa con đầu lòng của cô ta ra đời trong hoàn cảnh xã hội thê thảm đó,  Anh dấu không cho tôi biết, thư gởi cho tôi chỉ nói túng thiếu, nhưng cuối cùng tôi cũng rõ, do người em trai, bà con với anh, viết thư qua kể lại kêu gọi giúp đỡ khẩn cấp…Năm 1979, hoàn cảnh thiếu thốn ở Việt Nam lúc bấy giờ là hoàn cảnh chung của những người mất nước cho nên khi hay tin như thế, cầm lòng không đậu, vậy là tôi kéo bé Hòa, con trai Út của tôi, đánh một vòng shopping mua đủ thứ, cho con của một cựu nữ hướng đạo sinh “với” Bố của các con tôi! Oái ăm chưa? Không thiếu món náo hết! Bé Hòa thấy siêu thị có trưng bày một cái xe thiệt đẹp, cho em bé nằm để mẹ đẩy đi chơi, ngây thơ nói:

          – “Mẹ mua cho em cái xe này đi mẹ”.

          – “Không được đâu con xe bự quá, không ai cho gởi đâu, mà mẹ cũng không có đủ tiền để mua chiếc xe đó”.

     Lúc bấy giờ tôi cảm thấy vui chứ không buồn tí nào. Về đến nhà là lo xếp, gói, bỏ vào thùng “carton”, ghi địa chỉ, kiểm đi kiểm lại sợ viết sai địa chỉ, xong hí hửng đem đi gởi ngay. Rồi suốt mấy tuần cũng chờ đợi, cũng mừng vui khi hay tin mẹ em bé đã nhận được quà. Thiệt tình! Tôi cũng không hiểu nỗi tôi.

**********

          Năm 1980, khi hay tin Bộ Di Trú cho làm đơn bảo lãnh thân nhân, tôi vội vàng lên thẳng Bộ Di Trú làm đơn xin bảo lãnh cho Bố các con tôi qua Úc với chúng tôi, vì tôi biết các con tôi rất cần Bố vô cùng. Tôi nghĩ trong tương lai tôi có thể tìm cách bảo lãnh cho vợ con anh sau này. Anh viết thư cho tôi là anh bằng lòng đi đoàn tụ với chúng tôi, tôi tin anh sẽ qua Úc vì thư nào anh viết, tôi cũng thấy anh rất thành tâm trong việc đoàn tụ gia đình. Nhưng làm sao tôi biết được thực tâm anh nghĩ như thế nào. Trong thời gian tôi chờ đợi giấy chấp thuận của Bộ Di Trú thì vợ anh sanh đứa con thứ hai (1981)

     Nhận được giấy chấp thuận của Bộ Di Trú cho chồng tôi đoàn tụ với chúng tôi, tôi mừng quá, vội copy giữ lại bản phụ, còn bản chánh gởi về Sài Gòn, nhờ em trai tôi đem xuống Vũng Tàu giúp anh làm đơn xin xuất cảnh. Tôi vui mừng chờ đợi, nhưng cuối cùng nhận được một thư, thật dày, của anh! Gồm hai giấy khai sanh của hai con anh và, một hôn thú của anh với người đàn bà, không phải là tôi. Trời ơi! Vậy là không bao giờ anh đi được rồi. Anh bảo tôi đem lên Bộ, xin bảo lãnh hết gia đình anh ở VN. Tôi biết không đúng nên không làm. Em trai tôi cho tôi biết: “Đơn xin xuất cảnh của anh chắc không được xét vì anh điền tên của vợ con vào, trong lúc chỉ có một mình anh được bảo lãnh thôi, tin chị biết để chị khỏi trông”. Như vậy là xong, không mong gì các con tôi được gặp Bố. Khi đứa con thứ ba của anh ra đời, tôi không nhớ là năm nào vì anh dấu không cho tôi biết. Nhưng rồi tôi cũng biết qua thư người em họ, kể cho tôi nghe những thiếu thốn vô cùng của anh… nên khi nhận được thư anh kèm theo lời giải thích này nọ v..v.. tôi thấy chán lắm, tôi giận lắm, đi ra đi vào, bực bội lẩm bẩm một mình như bà điên:

“… Vậy thì còn đi đâu được nữa! Người có học thức, hiểu biết luật lệ chứ đâu phải như người không có kiến thức đâu! Sao không chịu thấy xa hiểu rộng một chút cho người ta nhờ! Thời buổi này mà sinh hoài thì biết làm sao đây? À thôi, tôi hiểu ra rồi, cô ta giữ anh bằng cách đó thì anh đi làm sao được? Cột vậy thì chặt lắm, chắc lắm anh bứt không ra đâu. Phải bản lĩnh một chút, phải nhìn xa một chút, chứ nếu cứ khư khư ích kỷ như thế thì chẳng ra làm sao cả. Mấy đứa con anh cũng bị kẹt hết thôi, không có đường đi rồi. Thôi kệ “họ”, nhất định từ nay không liên lạc nữa, không giúp đỡ nữa, mệt quá rồi”.

     Tôi thấy nóng nảy bực bội nên vào phòng tắm rửa mặt, với tay lấy chiếc khăn nhỏ, thấm nước vào đưa lên mặt, bỗng thấy trong gương một người đàn bà mặt mày đỏ gay dữ tợn đang nhìn tôi, bà xấu lắm, tóc rối bung, mày dựng ngược, không trang điểm nên đôi môi tím ngắt, hai mắt sưng húp, trông không giống người đàn bà mọi ngày, phấn son kiều diễm, dáng dấp dịu dàng. Tôi giật mình vội vàng rửa cho xong cái mặt đỏ gay, xuống bếp mở tủ lạnh kéo chai nước cam tươi, đổ đầy ly, uống hết. Xong lên giường nằm, vắt tay lên trán, suy nghĩ lung tung: “thôi buồn làm chi giận làm gì cho khổ cái thân”. Và hình như tôi thấy như đau nhức trong tim thật nên vội hít vào thật sâu và thở ra thật mạnh. Nhiều lần như thế cho đến lúc tôi lấy lại được bình tĩnh, nỗi đau thể xác khiến tôi quên đi nỗi đau tinh thần, hình như sau đó tôi có ngủ được một lúc. Thức dậy tôi đọc lại hai bức thư lần nữa, rồi lần nữa…Nhìn đồng hồ thấy còn sớm tôi đến nhà bank rút tiền gởi về giúp Bố của các con tôi. Tôi thấy mình trầm tĩnh và dễ chịu hơn nhiều. Tôi nhìn tôi trong kiến, thật tình mà nói người đàn bà dữ tợn biến mất, chỉ thấy tôi nhìn tôi nước mắt rưng rưng và mỉm cười bằng lòng về việc làm của mình.

**********

     Bà nội các cháu, đã lớn tuổi, bị tai nạn đau yếu, nằm một chỗ đi đứng không được, lại bị quên lẫn quả thật tội nghiệp. Ông Cụ đã già nên không thể nào săn sóc cho Bà Cụ được. Gia đình Anh Cả Yên, gồm hai vợ chồng và bốn đứa con, hai trai hai gái, đã được đi định cư tại Pháp. Chú Út Hy, sau khi đi tù cải tạo về, đã lập gia đình và có được hai đứa con, một gái một trai, Thím Út bận lo cho hai cháu, Chú Út bận lo làm việc để nuôi vợ con vì thế cho nên Chú Thím Út không thể săn sóc Bà Cụ được. Anh Kỳ, Bố các con tôi, lúc bấy giờ đã có ba đứa con, lên Sài gòn đón Mẹ về Vũng Tàu để tiện bề săn sóc cho Mẹ anh. Bà Cụ ở Vũng Tàu, Anh Kỳ săn sóc Mẹ tận tình từ miếng ăn giấc ngủ kể cả vệ sinh cá nhân và, Bình vợ anh cũng phụ chồng săn sóc Mẹ cẩn trọng, tôi thấy không lo về vấn đề này. Tôi chỉ biết giúp đỡ gia đình Bố Kỳ về tài chánh như từ trước. Ông Cụ ở Sài gòn thỉnh thoảng đi Vũng Tàu thăm Bà Cụ và ở lại một hoặc hai tuần với con cháu, nên Ông Cụ cũng vui, theo lời thư của Ông, thỉnh thoảng viết thăm chúng tôi ở bên Úc xa xôi này. Ông tuy đã gần chín mươi nhưng vẫn còn minh mẫn, thư viết chữ nhỏ đẹp như thuở nào và không bị run rẩy, thật đáng mừng. Tôi rất ít viết thư về thăm vì bận rộn quá và, thật sự tình cảm hầu như không còn nữa nên tôi không muốn viết những lời nhớ thương giả dối, nếu chỉ để làm vui lòng người nhận thì thật là không nên.

     Tôi làm trong hãng CBS Record sáu năm. Bỗng một hôm đang giữa lúc làm việc, tự nhiên máu ở đâu nhỏ xuống trước mặt, tôi giật mình khi biết từ mũi tôi chảy xuống thật nhiều. Tôi dừng lại đi vào lady room rửa mặt và ngồi nghĩ. Tôi thấy mệt và hơi nhức đầu. Chừng mười phút sau tôi trở lại làm việc như thường, cũng rất may mắn cho tôi hôm đó là chỉ bị vỡ mạch máu mũi chứ không bị chóng mặt hoặc ngất đi và, là thứ sáu nên ra về đúng 4 giờ ba mươi phút. Tôi về nhà nằm nghĩ và tối đi ngủ thật sớm chứ không thức xem TV với các con như mọi khi.

     Thứ bảy tôi đi thăm Bác sĩ gia đình, được cho hay là huyết áp rất cao, tôi vẫn còn nhớ rõ 190/100, nhưng sao tôi vẫn thấy bình thường. Tôi xin phép được nghỉ ba ngày rồi sau đó lấy hết số ngày nghỉ holidays còn lại của tôi. Sau khi trở lại bình thường, tôi vào xin thôi việc. Giấy chấp nhận thôi việc ghi ngày 31/08/1984 đến nay tôi vẫn còn giữ. Sau đó tôi xin được một “job” phụ bán “furniture” cho một cặp vợ chồng trẻ. Công việc nhẹ nhàng không chạy theo với máy móc nên huyết áp trở lại ổn định, tuy thế tôi phải uống thuốc mỗi ngày nếu không huyết áp sẽ lên cao. Một năm sau chủ shop đóng cửa, vậy là tôi bị thất nghiệp. Tôi có người quen làm cho hảng bảo hiểm nhân thọ AMP nên, được người quen đó “recruit” tôi thành một người đi bán bảo hiểm luôn. Thế là vào ban ngày tôi cứ đến văn phòng tìm một “cubicle” trống, ngồi gọi điện thoại cho bạn cùng người quen và cả người không quen để tìm thân chủ. Tôi cũng chăm làm, tuy có khó khăn hơn nhưng rồi cũng làm được ba năm. Đối công việc này tôi phải ăn mặc sạch sẽ đàng hoàng một chút chứ không thể lôi thôi lết thết như làm ở những chỗ cũ được. Trong lúc đi bán bảo hiểm tôi có một nữ thân chủ là Beauty Consultant cho công ty mỹ phẩm Mary Kay ở Mỹ, có chi nhánh ở Úc. Chắc bà thấy tôi cũng gọn gàng sạch sẽ nên bà tỏ ý muốn “recruit” tôi theo ngành hướng dẫn về săn sóc da và trang điểm cho đàn bà. Bà nói hay quá, tôi nhận lời ngay không ngần ngại tí nào, đàn bà mà, nghe ai nói làm đẹp mà không ham. Làm đơn, ký giấy, đóng tiền, đi học ngay. Vậy là tôi có hai “jobs”, ngày đêm gì cũng làm được hết, giờ làm việc tự do thích hợp với mình hơn. Nói nghe dễ nhưng thật sự không dễ chút nào!!!

      Vì tình hình kinh tế tại Việt Nam quá suy sụp nên chính quyền phải thay đổi chính sách, chính phủ gọi là “đổi mới”, mở cửa giao thương với các nước láng giềng, cho phép những người di tản vượt biên năm xưa được phép về thăm nhà, để có thêm ngoại tệ. Họ gọi chúng tôi là Việt Kiều chứ không còn gọi chúng tôi là Ngụy nữa. Năm 1986 đã có người về Việt Nam để tính chuyện làm ăn với  cộng sản, và người về thăm Việt Nam cũng nhiều. Tôi cũng muốn về nhưng chưa đi được, phải đi làm, vì tài chánh vẫn còn eo hẹp, tuy vậy thấy nhiều người về nên tôi cũng nôn nao vô cùng. Đành hẹn vậy.  

Còn tiếp,

DTQT . 07/12/2018.

30-8-2011-q-w-in-the-garden-002-e1544148620283.jpg

ĐƯỜNG HẦM DẪN ĐẾN MEXICO.

Cùng Bạn Đọc,

     Nhận được file này từ một Chị Bạn ở Mỹ, đọc xong Dã-Thảo copy và Reblog ngay lên trang nhà, chia xẻ cùng các Bạn trong và ngoài nước. Đây là tin quan trọng không những cho công dân Mỹ mà còn ảnh hưởng đến cho tất cả mọi công dân khác. Cầu xin ơn trên phù hộ cho dân chúng toàn cầu thoát khỏi bọn hiểm nguy tàu cộng.

Thân mến,

DTQT. 04/12/2018.

Mỹ phát hiện 1 đường hầm dẫn đến

Mexico, bên trong ẩn giấu bí mật kinh sợ.

     Đơn thuần đây không thể là một tổ chức Mafia Buôn Lậu mà phải do cỡ 1 quốc gia thù Mỹ nhúng tay chủ trương vừa có tiền, vừa hủy hoại nước Mỹ. Đó chính là Tàu Cộng !!!

                       Không phát hiện kịp thời thì dân Mỹ chắc chết vì ma túy và di dân. 

Cảnh sát Mỹ phát hiện 1 đường hầm dẫn đến Mexico, bên trong ẩn giấu bí mật kinh sợ.

duong ham.jpg

     Cảnh sát tuần tra ở San Diego, California vô tình phát hiện ra một đường hầm dẫn đến Mexico. Đường hầm này dài 2600 thước Anh (khoảng 2377 m), là đường hầm dài buôn lậu, dài nhất nước Mỹ bị phát hiện, bên trong cất giấu 1 tấn cocaine và hơn 7 tấn cần sa khiến cảnh sát rất kinh sợ.

duong ham 1

     Hình ảnh cảnh sát phái người canh giữ lối vào đường hầm, đang suy nghĩ biện pháp đi vào bên trong thăm dò.

duong ham 2.jpg

     Đường hầm được phát hiện có đầu phía Nam chui ra một khu công nghiệp giữa lối ra vào cảng Otay Mesa và trạm kiểm soát cao tốc California. Đây là khu vực tập trung nhiều xe tải vận chuyển hàng hóa hợp pháp qua lại giữa Mỹ và Mexico hàng ngày. Đầu còn lại nằm trong một căn nhà tại Tijuana.

duong ham 3.jpg

     Theo thông tin do cơ quan chức năng Mỹ đưa ra, đã có sáu nghi phạm bị bắt giữ trong vụ vây ráp nhằm triệt phá đường hầm buôn lậu ma túy nói trên.

Hình ảnh lối vào và bên trong đường hầm:

duong ham 4.jpgduong ham 5.jpgduong ham 6.jpghuong ham 7.jpgduong ham 8.jpgduong ham 9.jpg

     Những kẻ buôn lậu đã dùng nhiều cách để ngụy trang hai lối ra vào nhằm qua mặt các cơ quan chức năng – bao gồm cả việc sử dụng xe chở rác để vận chuyển ma túy từ đầu ra đường hầm phía Mỹ tới điểm tập kết trước khi chuyển sang xe tải thùng kín để di chuyển sâu hơi vào nội địa.

 

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 6)

Cùng Bạn Đọc,

Mời Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi”    

     Anh cựu thủy quân lục chiến đi đâu mất tiêu không thấy bóng. Bỗng một buổi sáng anh xuất hiện như thất thần trước nhà tôi, anh nói anh vừa bị gạt đi vượt biên, mất tiền mà không đi được. Tôi nói nửa đùa nửa thật:

          – “Tại em bỏ chị và các cháu trốn đi một mình nên bị gạt đó”.

          – “Chị nói có lý, chắc trời phạt tôi, bây giờ chị leo lên xe tôi chở chị đến đó đòi tiền lại mới được”. Anh chở tôi đến Bến Đá, tôi đứng ngoài giữ xe, anh đi vào căn nhà gần đó, một lúc sau anh trở ra mặt buồn hiu, tôi biết là anh mất toi hai cây rồi. Tôi nói:

          – “Thôi bỏ đi, không đòi nữa, lôi thôi họ vu oan cho anh tội này tội nọ là mệt lắm”.

     – “Không phải tôi không muốn kéo chị đi, tôi biết chị không đủ sức chạy cho đủ số mười cây, mà thôi cũng may tôi không kéo đó, chứ kéo thì mất bộn rồi”.

     Từ đó là tôi để anh lui tới với gia đình tôi thường hơn, mỗi lần đi lo công việc là anh cũng đèo tôi sau xe anh. Một hôm anh đến trao tôi một bao tải nhỏ đậm màu, cở bao đựng gạo năm ký, cũ kỹ xấu xí. Anh bảo tôi ngồi sau xe ôm chặt cái bao, thấy nặng nên tôi hỏi:

          – “Cái gì trong này mà nặng quá?”

          – “Ôm chặt kẻo rớt, “cây đó”, đóng bãi, lần này chắc được, tàu lớn”. Rồi thôi, anh không nói gì cứ lo chạy xe. Đến nơi cả hai vào nhà, khách chủ chào hỏi nhau:

          – “Anh chị mua trái cây?”.

Anh cựu quân nhân nói:

          – “Dạ không ghé thăm ông bà chút thôi”, một cách tự nhiên, chuyện trò thân mật với ông chủ nhà không có vẻ gì quan trọng hấp tấp. Một lúc sau chúng tôi bước ra, cái bao để trên bàn được ông chủ lưu ý cầm lấy. Vậy là xong, anh cựu quân nhân chở tôi thẳng đến nhà một người bạn của anh giới thiệu tôi với bạn, người bạn vui mừng thấy công việc trôi chảy. Lúc bấy giờ tôi mới biết ra đáng lý người bạn này phải là người mang số cây đó đi mua bãi nhưng anh bạn run quá, sợ lộ nên tôi là người ôm lấy, không thấy sợ, ngược lại tôi quá vui mừng mong cho việc chóng thành công. Qua hôm sau, anh cựu quân nhân đón người từ Sài gòn đến giới thiệu, nói với tôi là người thân của anh và dặn tôi chuẩn bị tối đi. Quả thật không ngờ, tôi và các con đi xe Lam đến địa điểm giao hàng ngày hôm qua, vì trời đã tối nên vừa đi vừa chạy vào nhà, lẫn ra sau vườn ngồi chờ “taxi”, tàu nhỏ đưa ra được gọi là “taxi”. Trời tối nên chẳng thấy đường tôi hụt chân bước xuống một vũng đất thấp mà không biết té lăn quay muốn gãy chân trái, cũng may có con gái nắm tay nên tôi đứng lên được, có tiếng người nói “taxi” đến rồi đó đi mau lên không thôi bị bỏ lại”, tôi bước đi cà nhắc mà nghe vậy cũng hết cảm thấy đau, đi như chạy. “Taxi” đến chúng tôi lội ngay xuống nước chẳng sợ nguy hiểm là gì, chuyền từng đứa con leo lên tàu nhỏ mà lòng quả thật lo sợ vô cùng vì không biết mình sẽ đi về đâu. Cuối cùng chúng tôi đến gần tàu lớn. Nhìn con tàu sáng trưng chúng tôi cũng hết hồn vì không biết có đúng không. Một trong các chị trên tàu lên tiếng: “đúng rồi đó, ông xã tôi đang đưa tay vẫy lá cờ trắng kia kìa cứ đến đi, tôi có lên đó một lần”, vậy là yên tâm rồi. Chúng tôi lần lược trèo lên được tàu lớn và xuống hết dưới khoang tàu, anh cựu quân nhân ôm lấy anh bạn mà tôi mới gặp ngày hôm trước mừng rỡ nói: “thành công rồi anh Ba”, anh này không đi cùng chuyến “taxi” với nhóm của chúng tôi. Vì tàu lớn đầy đủ tiện nghi nên khi ghé bến Mã Lai rồi Indonesia đều bị từ chối không cho tị nạn, tuy nhiên chúng tôi vẫn được ân cần tiếp đón và giúp đỡ, tôi không nhớ rõ đã lưu lại cảng Surabaya bao nhiêu ngày, sau đó tàu tiếp tục đi thẳng đến hải cảng Darwin Australia vào ngày 29/11/1977, tàu neo ở cảng Darwin chờ thủ tục tị nạn. Chúng tôi được Thủ Tướng chính phủ Úc, Malcom Frazer, chấp nhận cho tị nạn chính trị. Tôi vô cùng biết ơn Cựu Thủ Tướng quá cố Frazer đã mở lòng nhân đạo nhận chúng tôi, Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ trên con tàu Sông Bé 12 đã đưa chúng tôi đến bến bờ tự do, và nhất là anh bạn cựu quân nhân chí thân của một thời lao đao lận đận sau ngày mất nước. (Một điều đáng buồn cho chúng tôi là vị Thuyền Trưởng Sông Bé 12 đã qua đời vào ngày 03/09/2004 hưởng thọ sáu mươi tuổi. Tôi xin thành tâm đốt nén hương lòng tưởng nhớ đến vị ân nhân đáng kính của gia đình chúng tôi. Cùng thương mến gởi đến lời thăm hỏi ân cần và kính chúc gia đình Bà Quả Phụ Trần Phước Hậu vạn sự an lành).  

     Chúng tôi xin nhập cảnh. Ở trên tàu chờ đợi. Không biết phải chờ đợi bao lâu? Nếu tôi nhớ không sai đó là hai ngày chờ đợi và hy vọng. Rồi chính quyền cho phép chúng tôi được ở lại trên mảnh đất tươi đẹp Australia. Không thể tả nổi cái cảm giác của tôi lúc đó, chỉ biết là mình sung sướng, vô cùng sung sướng. Tôi đi xiêu vẹo trên đất liền lần đầu tiên sau gần một tháng vượt biển. Đặt đầu trên gối nằm đêm đó trong căn nhà tỵ nạn tôi đã có thể ngửi được cái mùi của hòa bình và tự do đang tỏa ra quanh tôi, chiếm hết đầu óc, khiến mình không ngủ được. Các con ngủ thật say, tôi biết rằng từ nay chúng sẽ không còn cầm chổi theo để quét đường khi đi học nữa. Chúng sẽ không còn hát những bài hát như đâm vào tim con người. Tôi không còn lo lắng có người đến gõ cửa vào ban đêm vặn hỏi điều này điều nọ mà không có lý do nào cả. Cảm ơn Trời Phật chúng tôi đã an toàn trên mảnh đất bình yên. Đây là mảnh đất người ta đến từ các nơi khác nhau, hòa đồng với các văn hóa khác, làm việc bên nhau cùng một nơi, nói với nhau cùng một thứ tiếng – English – tôi mang ơn sự hòa hợp này. Tôi tự nhủ sẽ đẩy xa bất cứ cản trở nào, đối mặt với bất cứ bất hạnh nào, làm việc khó nhọc ư? Tôi nhất định không có bất cứ một sự phàn nàn nào cả. Tôi mới có ba mươi ba tuổi, cái tuổi cao điểm của đời một người đàn bà, bị bắt buộc phải đấu đá, vì thế cho nên tôi sẽ đấu như một con “bull” cho sự tồn tại của gia đình tôi.

Trên Mảnh Đất An Lành

     Sau một ngày ở Darwin để làm thủ tục nhập cảnh, chúng tôi được đưa đến Sydney bằng phương tiện hàng không, do chính phủ tài trợ. Nhân viên và thông dịch viên đón chúng tôi tại phi trường Sydney, rồi xe Bus đưa về tạm cư ở Villawood Westbrige Hostel. Nơi chúng tôi trú ngụ phòng ốc khang trang đầy đủ tiện nghi điện nước, tôi vẫn còn nhớ chị làm phòng dẫn tôi vào phòng tắm chỉ dẫn cho tôi vòi nước nóng và vòi nước lạnh ( H và C) để chúng tôi khỏi bị bỡ ngỡ khi dùng nước, nhất là nước nóng để các cháu khỏi bị phỏng. Chị nói tiếng Anh thật chậm và rõ ràng để tôi hiểu chị muốn nói gì. Tôi cảm ơn, chị từ giả và còn chúc tôi có một ngày tốt lành. Tôi thành tâm cầu xin cho tôi cùng các con sẽ có được nhiều ngày tốt lành như những ngày vừa qua.

     Vì tương lai của các con, tôi bỏ nước ra đi, hy sinh tất cả là điều không thể nào tránh được. Trong cái đen tối không cùng của biển cả tôi nghe lòng rạn nứt vì đã bỏ lại chồng tôi trong ngục tù cộng sản. Tôi cầu mong anh tha thứ cho tôi, tôi nguyện có trời trên cao, dưới có biển cả mênh mông chứng giám cho lòng tôi, không bao giờ phản bội anh. Chỉ có một mình tôi mới biết được tôi, mới hiểu được tôi thôi, như vậy cũng đủ cho tôi sống để lo cho các con tôi đến lúc trưởng thành, nên người hữu dụng. Nếu ngày đó tôi không liều mạng thì có lẽ bốn mẹ con tôi không còn sống trên đời này. Có ai hiểu cho tôi trong hoàn cảnh đáng suy ngẫm đó hay không?

     Tôi và anh cựu quân nhân sau vài tháng ở chung trong trại tạm cư thì có mối bất hòa nên khi chúng tôi dọn ra ngoài là xa nhau. Cách mấy năm sau, anh cựu quân nhân thủy quân lục chiến đưa đến căn flat tôi ở, một cô bạn gái và, anh nói giọng vui đùa nhờ tôi coi mắt giùm. Tôi vui mừng đón tiếp cả hai rất nồng hậu, cô gái thật dễ thương. Không lâu sau đó tôi nghe tin anh và cô gái đã thành hôn. Tôi vui mừng vô cùng, mặc dầu tôi không được mời đi dự đám cưới. Tôi thật sự vẫn quý anh và nhớ ơn anh rất nhiều. Tôi chân thành cầu chúc vợ chồng anh có một cuộc hôn nhân hạnh phúc lâu dài.

     Căn flat tôi thuê chỉ có một phòng ngủ rộng, vừa kê đủ một cái giường chồng cho hai đứa con trai và một cái giường chiếc cho con gái, phòng ăn sát với nhà bếp được kê thêm một chiếc giường đơn đã cũ, của bà chủ khu chung cư đưa qua, tôi treo một tấm màng chia đôi phòng ăn và phòng khách, vậy là tôi có căn phòng ngủ! Sát nhà bếp, thế là ấp cúng rồi không còn phàn nàn gì nữa. Chúng tôi dùng cơm ngay trong nhà bếp, vì bếp vẫn còn rộng có thể kê thêm một bàn nhỏ. Cuộc  sống của tôi hết sức giản dị, khiêm nhường, nếu không muốn nói là dưới trung bình, là nghèo, rất nghèo. Áo quần “second hand” dành cho tôi, nhưng tôi sắm áo quần mới cho các con, suốt ngày đi làm trong hảng xưởng thì chẳng cần gì quần áo mới, tôi cũng chẳng đi ra ngoài nhiều. Tôi dành những giờ rảnh rỗi để sinh hoạt với các con, nghỉ ngơi và viết lách, vì tôi nhận giữ “Trang Bạn Gái” cho hai tờ báo “Thế Hệ Mới” và “Chuông Sài Gòn”, ở thập niên 80.

     Muốn viết thì phải đọc. Báo Việt Nam chỉ có hai tờ tôi vừa nêu trên. Chuyện ngắn chuyện dài, quảng cáo, “chi cũng ngốn”, lật qua lật lại là hết trơn. Xoay qua đọc báo tiếng Anh vậy. À cái này mới rắc rối đây, ngoài số vốn Anh ngữ ở trường và sau mười tuần học Anh ngữ lúc mới đến Úc để ra kiếm việc làm và tiếp xúc với người di dân và người bản xứ. Đọc sách báo tiếng Anh quả thật tốn rất nhiều thì giờ, vì đọc qua một lần chưa hiểu phải đọc lại, đã vậy lúc nào cũng phải có Ông Thầy “Câm” ở bên cạnh, mỗi khi gặp chữ khó, cứ hỏi Ông là ra ngay. Mà chữ khó thì gặp hoài từ đầu trang đến cuối trang, trang nào cũng có. Vậy đó, tôi cứ hỏi Thầy tôi hoài, và không bao giờ tôi bị thầy giận hờn trách móc gì tôi cả. Tôi “thỉnh” “Ông Thầy Câm” này lúc còn mới nguyên si, từ tiệm sách “Dymock” ở tận City đầu năm 1980 đó nghe, chứ không phải “second hand” đâu nhé. Tên thầy là “The Oxford Paperback Dictionary”, vậy mà bây giờ trông Thầy thật tội nghiệp, mặt mày bạc phết, bìa rách xác xơ. Nhìn Thầy là biết tôi chịu khó học Anh Ngữ lắm. Mà cũng nhờ vậy nên tôi dần dà mới nói và viết được đôi chữ tiếng Anh cho nên câu lúc sau này. Nhưng chưa đủ, vì thế cho nên tôi phải đến trường học thêm vài khóa nữa. Vẫn chưa tới đâu nên cứ đọc hoài, học hoài, vẫn cứ thiếu, nên tôi hình như lúc nào cũng bận rộn. Tôi cũng xin kể thêm, khi tôi lên Bộ Y Tế xin được làm việc theo đúng nghề của mình, thì được Bộ trả lời: Nếu tôi muốn đi làm theo nghề của mình thì tôi phải đi học trở lại thêm ba năm nữa về ngành Hộ Sinh và Bộ cũng bằng lòng cho tôi đi học thêm Anh Ngữ về nghề của mình ít nhất là sáu tháng đến một năm. Với số vốn Anh Ngữ quá ít tôi nghĩ phải mất rất nhiều thời gian bốn năm mới đi làm được, trong lúc hiện tại tôi phải lo cho ba đứa con ăn học và còn phải lo cho gia đình còn bị kẹt lại ở Việt Nam, thôi tôi đành phải bỏ ý định đi học lại để đi tìm việc làm không đúng với khả năng của mình.   

     Gia đình Ông Bà chủ căn chung cư, người Ý, có hai người con, một trai một gái, đã lớn chưa lập gia đình nên vẫn còn ở chung với cha mẹ, cũng ở cùng trong khu chung cư với chúng tôi, Ông Bà tử tế và lịch sự vô cùng. Tôi trả tiền mướn flat thẳng với Bà chủ, mỗi hai tuần, chứ không qua văn phòng trung gian nên cũng rất tiện cho tôi không phải mất thì giờ đi đâu cả, chỉ cần gõ cửa flat đối diện, chờ một chút, Bà chủ tươi cười đi ra với cái “receipt” thế là xong, khỏi mất một buổi sáng hay một buổi chiều nào cả.

     Tôi đi làm hơi xa, phải bắt xe lửa rồi xe bus mới đến hảng làm việc. Vì thế cho nên mỗi sáng tôi dậy thật sớm, ăn vội cặp bánh mì “sandwich” uống vội ly cà phê, rời nhà, đi bộ ra trạm xe lửa bắt chuyến xe sáu giờ. Rời xe lửa băng qua đường cái, bắt chuyến xe bus bảy giờ mười phút, đến trạm dừng, đi bộ một đoạn ngắn đến hảng, bấm thẻ là vừa đúng bảy giờ ba mươi phút không sai chạy đi đâu cả. Làm việc liên tục từ 7:30’ đến 10:00 trưa, nghỉ 10 phút giải lao ăn bánh uống trà hay làm gì tùy ý mỗi người. 10:10’ trở lại làm việc đến 12:00, nghỉ ăn trưa nửa tiếng đồng hồ. Tôi thường “order” thức ăn qua “canteen” của hảng nên không phải lo lắng về việc bới xách cho bữa ăn trưa của mình, nên cũng giảm bớt lôi thôi phần nào. 12:30’ làm việc đến 3:00 chiều, nghỉ 10 phút giải lao, trở lại làm việc đến 4:30 chiều là tan sở. Trở ra đón xe bus, bắt xe lửa rồi đi bộ về nhà cũng phải gần sáu giờ chiều. Hôm nào ở lại làm thêm giờ, tức là thêm ba tiếng đồng hồ, từ 4:30’ đến 7:30’ buổi chiều, tôi về đến nhà đã gần 9:00 giờ tối rồi. Tắm rửa ăn uống xong đã đến giờ đi nghỉ, chẳng có thì giờ nào chăm sóc cho ba đứa con của tôi, chúng tự săn sóc lấy nhau thấy mà thương. Tuy thế tôi vẫn cố gắng hết sức mình để những ngày không làm thêm, về đến nhà sớm, tôi cũng dành chút thì giờ chăm sóc các con và sinh hoạt với chúng vào ban đêm trước khi chúng vào phòng ngủ.

     “Con Trai Lớn của tôi ơi, mẹ nhớ ơn con vô cùng! Mới hơn chín tuổi đã biết nói lời trưởng thượng”:

   – “Chết thì con không sợ nhưng nếu mẹ bỏ thuốc giết chuột vào, mẹ đừng nói cho con biết vì nếu con biết có thuốc chuột thì con không ăn, con không muốn chết!”.

     “Con giữ đúng luật làm người, không tự hại mình, thì mẹ không có quyền hại các con. Thương con nhiều lắm con biết không?”

     “Con Gái Đầu của tôi ơi, mười một tuổi đến Úc, mà như đã trưởng thành biết lo lắng cho các em cái ăn cái uống để mẹ có thể suốt ngày làm việc trong hãng xưởng kiếm tiền lo cho các con và lo cho người còn bị kẹt lại bên nhà. Thương con quá!”

     “Con Trai Út của tôi ơi, mẹ xin lỗi đã để con đi bộ một mình đến trường dù trời mưa hay nắng, nóng hay lạnh, con mới hơn tám tuổi, tội nghiệp con tôi đã tự mình lo lấy lúc hãy còn bé thơ, cũng may trường học gần nhà nên con đi mà không sợ gì cả. Bây giờ nghĩ lại mẹ thấy thương các con làm sao! Mẹ quả thật thiếu bổn phận với các con nhiều lắm! Mẹ chỉ biết lo đi làm, nhiều hơn là lo cho các con. Các con ơi, thông cảm và tha thứ cho mẹ nhé”.

Còn tiếp.

DTQT. 01/12/2018.

th.jpg CBS record

     Tôi làm trong hảng CBS Record, đứng máy, đợi máy làm ra, bỏ vào thùng những dĩa hát này, dán thùng lại dán nhãn lên thùng, bỏ xuống “pallet” để một công nhân khác lái fork-lift đến kéo pallet đi. 

CHUYỆN QUANH TA.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo cảm ơn Anh Longkangaroo đã gởi cho DT file này. Xin phép Anh Long cho Thảo reblog để share với các Bạn. Mời Bạn đọc một chuyện tếu nho nhỏ không biết của tác giả nào viết, nhưng thấy Anh Long có “đưa” vào đọc, trước khi đọc file chính của Anh, DT đọc thấy hình như “lạ” và bật cười nên muốn các Bạn cùng cười cho vui. Đọc xong chuyện vui mời Bạn đọc tiếp một bài viết rất có giá trị của Triệu Hoài An -Tổng Thư Ký Nghiệp đoàn Báo Chí VN do Anh Longkangaroo giới thiệu.

Thân mến,

DTQT. 30/11/2018.

GIÁO DỤC XHCN -VN-Thanh tra trường cấp quận 😋

     Đoàn thanh tra do ông Phùng Xuân Nhạ Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo dẫn đầu, đến thanh tra một trường học cấp quận. Ông Nhạ chỉ vào quả địa cầu trong lớp và hỏi một học sinh:

– Hãy cho tôi biết tại sao trục quả cầu này lại nghiêng như thế? Em học sinh sợ sệt trả lời :

– Dạ không phải em làm đâu ạ!

Ông Nhạ quay sang hỏi một học sinh khác.

Em này run run nói:

– Mọi người đều thấy…em mới vừa vào lớp mà!

Ông Nhạ lắc đầu quay qua nhìn thầy giáo.

Thầy giáo mặt đầy vẻ biết lỗi.

– Không thể trách các em được ạ! Quả địa cầu này khi mua về đã nghiêng thế rồi.

Thầy hiệu trưởng đứng kế bên nhìn thấy nét mặt ngày càng khó coi của ông Phùng Xuân Nhạ, vội vàng giải thích:

– Dạ là vì…để Thủ tướng xem cho dễ ạ!

Ông bộ trưởng nổi nóng đập bàn.

– Nói vớ vẫn!

Thầy hiệu trưởng có vẻ thành khẩn.

– Nói ra thật xấu hổ, vì kinh phí nhà trường có hạn nên chúng tôi chỉ có thể mua được hàng vỉa hè, nên không đảm bảo chất lượng.

Mặt ông bộ trưởng Nhạ tím ngắt, giận dữ đập bàn hét:

– Toàn một lũ đầu óc bả đậu, quả địa cầu bị nghiêng…thì phải kiếm cái gì kê lên cho nó thẳng chứ. 

**********

Người Sài Gòn đêm ngủ lang, sáng xếp

hàng dài chờ sửa xe máy

Lut Saigon

Người dân phải dán cảnh báo hố sâu cho người đi đường – Ảnh: NGỌC HIỂN

     Tại đường Đinh Bộ Lĩnh, Chu Văn An, Xô Viết Nghệ Tĩnh (Q. Bình Thạnh), nhiều đoạn nước vẫn còn ngập sâu đến đầu gối khiến xe cộ của người dân liên tục chết máy. 

     Nhiều xe hơi cũng chết máy nằm im lìm ngay giữa đường. Các tiệm sửa xe trên các con đường này có hàng dài người xếp hàng chờ đến lượt sửa xe. 

     Xếp hàng chờ sửa xe tại một tiệm bảo dưỡng xe máy trên đường Nơ Trang Long (Q. Bình Thạnh), anh Huỳnh Văn Nam (30 tuổi) cho biết đêm 25-11, anh phải thuê khách sạn ngủ bởi xe chết máy không thể về nhà. 

     Sống ở đường Cộng Hòa (Q. Tân Bình), có công việc nên tối 25-11 anh Nam phải đến đường Nguyễn Gia Trí (Q. Bình Thạnh) nhưng lại không thể về vì nước ngập quá đầu gối, xe chết máy không thể di chuyển. Do vậy, anh Nam đành bỏ ra 200.000 đồng ngủ tại khách sạn. 

 Dân Sài Gòn xếp hàng chờ sửa xe máy – Video: NGỌC HIỂN

Xem thêm video khác trên TVO

     Còn với gia đình của anh Đỗ Trọng Tân (Q. Bình Tân), cả 6 người phải ngủ lại nhà người quen ở khu vực Thanh Đa (Q. Bình Thạnh) nhưng sáng nay trở về lại bị ngập nước trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh khiến mấy chiếc xe tay ga đều chết máy. 

     Tương tự, anh Lê Văn Tiến (ngụ đường Đinh Bộ Lĩnh) cũng cho biết trong nhà phải kê đồ đạc lên cao nửa mét bởi nước tràn vào khiến cuộc sống cả gia đình đảo lộn.

Lut Saigon 1.jpg

Người dân xếp hàng chờ sửa xe máy – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 2

Hai cô gái bì bõm lội nước trên đường Đinh Bộ Lĩnh (Q. Bình Thạnh) sáng 26-11 – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 3.jpg

Nhiều người trễ giờ làm, đảo lộn công việc bởi ngập nước, xe hỏng, kẹt xe – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 4.jpg

     Gia đình anh Đỗ Trọng Tân phải ngủ đêm ở nhà người quen tại Bình Thạnh và sáng sớm nay phải đi sửa xe tại đường Nơ Trang Long do cả mấy chiếc xe trong gia đình đều bị ngập nước – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 5.jpg

Dân Sài Gòn dắt tay nhau lội qua biển nước sáng 26-11 – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 6.jpg

Xe hơi chết máy nằm im lìm giữa dòng xe cộ sáng 26-11 – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 7.jpg

Đến 9h sáng 26-11, đường Chu Văn An (Q. Bình Thạnh) vẫn còn ngập nước – Ảnh: NGỌC HIỂN

 Chương trình tái thiết kiến trúc cho Việt Nam.

Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/rRvoJi

Nguyên nhân nào Sài Gòn ngập nặng 
Hòn Ngọc Viễn Đông Đã Bị Xóa Tên 

Lut Saigon 8.jpg

Lut Saigon 9.jpg

Hòn Ngọc Viễn Đông Đã Bị Xóa Tên 

      Nguyên nhân sâu xa nào Sài Gòn ngập nặng 

     Nếu như không có “Phỏng dái” 30/4 một Thành phố bị sang tên “Thành Hồ” có bị ngập nặng hay không? 

Vì ai gây ra nông nổi thế này? 

Xin đọc và tìm hiểu qua Nhà Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ 

KIẾN TRÚC SƯ NGÔ VIẾT THỤ: VÌ SAO SÀI GÒN NGẬP NẶNG 

     Lời tòa soạn: Ông là nhà kiến trúc xuất sắc bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, và có lẽ là kiến trúc sư tài ba nhất của đất nước trong thế kỷ XX. Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam đưa ra đây câu chuyện về ông trên Internet để giới thiệu cho các sinh viên ngành xây dựng và kiến trúc một tấm gương để học hỏi. 

     Trong giai đoạn 1950-1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia ở Paris. Năm 1955, ông nhận giải nhất Giải thưởng lớn Rôma về kiến trúc, nội thất thường được gọi là khôi nguyên La mã. Sau đó ông nhận bằng tốt nghiệp kiến trúc sư D.P.L.G.

     Trong thời gian 1955-1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis của viện hàn lâm Pháp tại Roma để làm nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc.

     Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) cùng với một số kiến trúc sư, danh tiếng cùng thời. Ông đã thiết kế nhiều công trình xây dựng lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Nổi bật là dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Hạt nhân Đà Lạt (1962-1965), Làng Đại học Thủ Đức (1962), chợ Đà Lạt (1962), khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962)…

 *****TRƯỚC KHI RỜI SÀI GÒN KIẾN TRÚC SƯ NGÔ VIẾT THỤ CĂN DẶN LẠI NHƯ MỘT DI CHÚC: Không được phát triển thành phố về hướng Nam & Đông Nam. Nếu muốn mở rộng thành phố thì hãy mở rộng về hướng Tây và Tây Bắc. Vì hướng Nam và Đông Nam là nơi duy nhất thoát nước cho thành phố Sài Gòn.”

*****Việc ngập lụt của Sài Gòn còn cần phải kể đến chuỗi thành tích bán đất thịt để đổi lấy xi-măng gạch đá của tư duy công nghiệp nặng mà những người cộng sản có niềm tin quyết thắng là sẽ thành công. Khi có các tòa nhà, các biệt thự…và vài ba đồng tiền trước mắt thì nước mưa không có chỗ đất thịt để trôi đến và ngấm vào. Nước đọng lại trong thành phố không chảy đi được, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Sự xuẩn động của những kẻ cai trị thành phố qua các thời kỳ đã cho phát triển thành phố về hướng Nam và Đông nam nên ngày nay Sài Gòn ngập lụt, vô phương cứu chữa.

     Ở trường đại học Nông Lâm tại Sài Gòn, có khắc tên vinh danh kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người thiết kế nên cả nền kiến trúc trường này, nay đã bị “ai đó” cố tình dời đi.

     Sau khi từ trần, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ có truyền tử là kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn là một kiến trúc sư danh giá của Việt Nam, và tiếp nối tấm gương của người bố, ông Nam Sơn có nhiều đóng góp giá trị về học thuật cho nền kiến trúc nước nhà.

     Viết bởi Triệu Hoài An-Tổng thư ký, Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Bài viết thuộc Chương trình tái thiết kiến trúc cho Việt Nam.

Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/rRvoJi

     Đăng lần đầu ngày 22 tháng 05 năm 2018- Cập nhật mới nhất ngày 27 tháng 11 năm 2018

Lut Saigon 10.jpg

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 5)

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo mời Bạn đọc đoạn này của “Chuyện Đời Tôi” đã có trích đăng dưới tiểu đề “Nước Mất Nhà Tan”. Chắc có nhiều bạn đã đọc qua, nhưng nay vì DT muốn gởi đến các Bạn nguyên câu chuyện dài vì thế DT phải đặt vào để không bị ngắt khoảng, mong Bạn vui lòng, hy vọng rằng tuy Bạn đọc thêm vài lần, DT vẫn mong câu chuyện riêng tư cũng như tâm sự của Dã-Thảo không làm mất thì giờ quý báu của Các Bạn Đọc. Những hình ảnh dưới đây DT copy từ một blog đã post lên ngày 23/03/2011. Thành thật chúc Các Bạn một ngày vui.

Thân mến,

DTQT. 28/11/2018.

Chuyện Đời Tôi (Tiếp Theo 5)

     Vì lương không đủ sống nên tôi rủ chị bạn cùng sở lên Sài gòn đến xưởng vải của một người bà con mua sa-tanh đen đem về Vũng Tàu bán kiếm thêm tiền. Con gái tôi thứ bảy hay chủ nhật cũng theo tôi đi buôn gạo và buôn mỡ heo, trời ạ, chỉ có chục ký gạo, chục ký mỡ mà phải dấu trước dém sau không thôi công an thấy được là bị tịch thu hết. Như vậy mà cũng có thêm chút ít tiền mua thức ăn cho con. Có lần mua mỡ ở chợ trời Sài gòn bị con buôn lường gạt bỏ vào giỏ xách của tôi vài ba ký gì đó, thấy chị bán hàng cân mười ký tôi trả tiền mười ký, vừa nhận tiền xong chị đứng dậy la lên: “cảnh sát, cảnh sát” rồi chạy mất, ai nấy cũng ngạc nhiên nhìn quanh chẳng thấy cảnh sát đâu cả. Tôi từ từ xách giỏ mỡ lên thấy nhẹ hẻo mới hiểu ra rằng mình bị giựt tiền ban ngày giữa chốn chợ đông. Về nhà kể lại cho chị bạn hàng thường nhận mua mỡ giúp mình, vừa bực mình mà cũng vừa thương hại. Chắc gia đình chị bán mỡ ở chợ Sài Gòn kia phải gặp cảnh khó khăn lắm nên khiến chị sinh ra lừa đảo như thế mới đủ tiền nuôi nổi bầy con năm sáu đứa cũng không chừng! Tôi chỉ bực mình thôi chứ không trách chị làm gì, hoàn cảnh tạo nên cả!

     Có một chuyện tôi không mắt thấy, nhưng tai nghe: “Một người đàn bà có năm đứa con chồng đi cải tạo chưa về, không biết suy nghĩ thế nào, chị nấu một nồi cháo bỏ vào một gói thuốc chuột cho năm đứa con ăn, chết hết, chị sắp chúng lên giường nằm ngay ngắn, chị ăn phần còn lại dành cho chị và nằm xuống bên cạnh các con. Thế là xong, không còn suy nghĩ ngày mai lấy tiền đâu mua gạo nấu cháo cho con nữa. Người ta không thấy chị và các con đâu, tò mò đến nhà nên mới khám phá ra chuyện giết hết con rồi tự chấm dứt đời mình. Chuyện thứ hai cũng không mắt thấy nhưng tai nghe, đó là: “Chị Dâu Đầu của tôi, Anh Hai tôi, đi tù cải tạo lâu chưa về chị ở nhà sống cùng con trai và con dâu. Sau những lần đổi tiền không biết sợ hãi chuyện gì, Chị Dâu tôi uống nguyên chai dầu nóng, không cứu được, anh Hai tôi, anh Trần Được hay tin, hai bàn tay nắm lấy song sắt nơi trại cải tạo lắt mạnh kêu lên: “Mình ơi, đâu đến nỗi nào mà mình phải làm như vậy!”. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng chắc phải có chuyện gì uẩn khúc lắm Chị Dâu tôi mới làm như vậy. Còn nhiều chuyện xảy ra lắm nhưng tôi biết có nhiều bạn không những chỉ nghe mà còn được thấy tận mắt nữa kìa, kể  mấy cũng không hết được.

     Còn chuyện của riêng tôi: “có một hôm tôi nói nửa đùa nửa thật với các con, Duyên Nghị Hòa, mẹ nấu nồi cháo bỏ thuốc chuột vào, mẹ với các ăn rồi chết hết cho khỏe. Duyên nhìn mẹ không nói gì, mắt con gái tôi thật đẹp sáng long lanh trông đáng yêu quá. Hòa còn bé không quan tâm mấy, em còn ngây thơ lắm. Nhưng Nghị nói: “chết thì con không sợ, nhưng nếu mẹ bỏ thuốc chuột vào, đừng cho con biết vì nếu con biết có thuốc chuột trong đó con sẽ không ăn, vì con không muốn chết”. Lúc đó Nghị mới hơn chín tuổi. Tôi không ngờ câu nói đó của con trai tôi: “con không muốn chết” là động lực thúc đẩy tôi tìm đường sống cho các con tôi sau này. Tôi có tám câu thơ tặng Nghị, con trai yêu quí của tôi:

  “Mẹ cảm ơn con, con trai của mẹ,

  Đã cứu được hết bốn mạng người rồi, 

                 Con có biết không? mới hơn chín tuổi!

                 Con cứu Mẹ khỏi rơi vào địa ngục,

                 Trong vô thức con nói thật lòng con,

                 Làm thức tỉnh lòng thương con của Mẹ,

                 Hướng Mẹ đi cho đúng việc làm người,

                 Con cứu Mẹ khỏi rơi vào địa ngục”.

      Khách sạn trước trường Thiếu Sinh Quân, đối diện trại gia binh Cô Giang ngày trước, được dùng để mở trường Cán Bộ Y Tế Vũng Tàu đang cần một số giáo viên Nữ Hộ Sinh và Cán Sự Y Tế có kinh nghiệm và giỏi tay nghề sang dạy. Tôi và một cô bạn nữa, cô Bảo, được chị Nữ Hộ Sinh Trưởng chỉ định chuyển qua, chị, Oanh mừng cho tôi và cô Bảo được thoát khỏi Ban Lãnh Đạo nói nhiều mà làm ít, sáng nào cũng họp “ban giao” phê bình kiểm điểm cả tiếng đồng hồ mà chẳng ra cái gì hết nhai đi nhai lại cũng chỉ bấy nhiêu điều: “làm tốt, học tập tốt, tự phê bình, tự kiểm điểm để tiến tới một xã hội khá hơn, đó là XHCN”. Đổi qua đây, tôi và các con được ở một phòng trong khách sạn kê được hai cái giường chồng đủ cho bốn mẹ con chúng tôi. Nấu nướng đều ở trong căn phòng nhỏ dành làm buồng tắm cầu tiêu. Bạn tôi, cô Bảo và năm đứa con cũng vào ở căn phòng đối điện với phòng tôi. Công việc thì không khó khăn gì chỉ soạn bài rồi lên lớp, hằng ngày đưa học sinh đi thực tập buổi sáng ở bệnh viện Vũng Tàu, buổi chiều hướng dẫn lý thuyết tại khách sạn, nay là trường cán bộ y tế. Học sinh thì có đàn ông đàn bà con trai con gái đủ lứa tuổi phần đông ở dưới quê lên, cũng có một số ở tại Vũng Tàu. Học sinh đông, nhưng nếu chỉ kể các chị học về phần hộ sinh, săn sóc trẻ em chúng tôi có khoảng hai mươi người. Còn các nhân viên về ẩm thực và các phần hành khác tôi thấy cũng đông lắm. Những lúc lên lớp như thế, tôi thường thấy có một nhân viên, cán bộ, ngồi cuối phòng học theo dõi phương pháp giảng dạy của giáo viên và phê bình ngay tại chỗ. Tôi nhớ có lần bị phê bình là tôi viết tên thuốc bằng chữ ngoại ngữ, họ nhắc tôi phải chuyển âm qua tiếng Việt và viết bằng tiếng Việt thôi, không được viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Tôi lúng túng không biết nên viết thế nào cho ổn đây! Nhưng cuối cùng tôi vẫn viết tên thuốc như tôi đã tửng được học và mở ngoặc phiên âm ra tiếng Việt cho học sinh đọc, chứ viết loạn quạng chắc không ai hiểu nổi mà đọc lầm tên thuốc thì nguy quá. Quá bận rộn ban ngày, tối còn phải đi học tập hoặc hội họp, nhưng bây giờ thứ bảy chủ nhật hết lội xuống bùn làm lao động XHCN, không đi trực đêm tránh được cảnh kéo ba đứa con lôi thôi lếch thếch đến ngủ dật dờ trong bệnh viện nên cũng đỡ phần nào vất vã.

     Có một tai nạn bất ngờ xảy ra cho một em nữ sinh còn trẻ, học về ngành y tá, em lên sân thượng, lầu ba của khách sạn, leo qua lan can của sân thượng trượt chân thế nào không biết, em rơi xuống ngay sân trước, được đưa vào phòng cấp cứu của bệnh viện Lê Lợi ngay. Lúc bấy giờ tôi đang đưa các em đi thực tập tại các phòng bệnh, nghe tin chẳng lành tôi tức tốc chạy qua phòng cấp cứu thấy em nằm đó mặt mày tái ngắt như không còn dấu hiệu gì của sự sống, tôi cầm tay em thấy mạch không đập, nhân viên ở phòng cấp cứu nhìn tôi lắt đầu, các em khác thấy bạn như vậy chỉ còn biết ôm nhau nức nở, tôi đứng ngẩn người ra chẳng nói được lời nào, chỉ nghe như mình bị nghẹt thở. Tôi cùng các em học viên bước ra, về phòng thực tập, trong trí tôi còn in gương mặt tái sậm của em nữ sinh bị tai nạn, ngã từ lầu ba của ký túc xá xuống sân trước khách sạn, nay trở thành trường Cán Bộ Y Tế Vũng Tàu.

**********

 Tôi tình cờ gặp một cựu thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa, còn rất trẻ, tuổi mới hai mươi lăm, trên cánh tay có xâm hai chữ “Sát Cộng” đã bị xóa đi nhưng tôi vẫn còn đọc được. Theo như lời anh nói anh không bị đi tù cải tạo vì anh chỉ là lính tình nguyện thường, không có cấp bậc gì, đang tìm đường vô “Bưng”. Anh nói anh sẽ đi Vĩnh Long gặp vài cựu quân nhân khác xem sao. Tôi gợi ý cho tôi đi theo với. Anh nhìn tôi hỏi:

          – “Chị nói thật hay nói đùa?”

          – “Nói thật” tôi trả lời.

          – “Thứ bảy tôi đi”.

          – “Chờ tôi ở đây”.

     Sáng thứ sáu, tôi đưa các con về Sài gòn gởi cho cô Liên, chị ruột của chồng tôi, thưa với chị là tôi có việc cần phải ở lại đêm nên không dám để các cháu ở nhà trong lúc tôi đi vắng. Chị nhận lời mà không gặn hỏi lôi thôi gì cả. Thứ bảy, đến Vĩnh Long tôi bất ngờ gặp lại một nữ quân nhân có quen biết vợ chồng chúng tôi và một người đàn ông cao lớn tướng tá phương phi, tôi không thể đoán được tuổi vì hàm râu ông để trông giống người khác thế kỷ với tôi.  Người cựu Nữ quân nhân khuyên tôi: “Bà nên về với các cháu, “Họ” không bằng lòng nhận bà với ba đứa nhỏ, khó lắm không được đâu!” Vì thế tôi và anh cựu quân nhân trẻ phải quay về ngay chuyến xe chót của những người đi buôn qua đêm từ Vĩnh Long lên Sài gòn. Anh cựu thủy quân lục chiến bảo tôi:

          – “Chị đừng lo tôi sẽ tìm đường vượt biên, chị muốn đi không?”

          – “Sao không, cho gia đình tôi đi với” tôi trả lời.

          – “Đông quá, chị bỏ bớt hai đứa được không?”

          – “Đi thì đi hết, bỏ một đứa cũng không”.

          – “Khó lắm chị biết không?”

          – “Tôi biết, nhưng tôi không bỏ con”.

     Lên đến Sài gòn tôi ghé đón con về ngay. Chủ nhật tiếp theo sau tôi mua thức ăn đi thăm nuôi, đưa các con lên thăm chồng ở trại tù cải tạo Long Khánh, tin cho anh biết là tôi sẽ đi vượt biên. Chồng tôi bảo:

          – “Đợi anh về rồi cùng đi”.

          – “Không biết bao giờ họ mới trả lại tự do”, tôi do dự.

     Sau khi lên thăm chồng về tôi đưa các cháu lên Sài gòn thăm Ba Mẹ chồng, anh chị chồng, nhân tiện tôi cũng báo tin với gia đình bên chồng là tôi sẽ ra đi nhưng chưa biết khi nào. Ai cũng khuyên tôi nên thận trọng. Chuyến đầu tiên không thành công, rất may là không bị lôi thôi, nhưng “thua keo này bày keo khác”. Tôi có nghe những chuyến đi bị bại lộ bị công an biên phòng chận lại đánh đập, cho vào tù, rồi những chuyến đi bị chìm tàu chết đuối xác trôi vào các bãi biển v.v. Chị Oanh khuyên: “thôi bỏ ý định vượt biên đi bà Quế, thấy người ta chết xác trôi vào bãi biển không?” tôi cũng bị giao động không ít nhưng đã quyết tâm nên cứ nhắm mắt đưa chân, chết ở đâu cũng là chết chỉ không biết sớm hay muộn thôi, lo được đến đâu cứ lo.

     Có những chuyện xảy ra không vừa ý ở trường Cán Bộ Y Tế, tôi thấy ban chấp hành cứ hay làm thịt heo, ngay trong ký túc xá của trường, chia nhau, rồi ăn nhậu um sùm, tôi cảm thấy có cái gì không ổn, lúc nào cũng thấy lo âu, và nhất là không đủ thời giờ lo cho chuyện vượt biên, tôi xin thôi việc. Dọn ra ở nhờ nhà người bạn gái, chồng cũng đi tù cải tạo, tôi có nhiều thời giờ chạy lên chạy xuống Sài gòn buôn cái này bán cái kia kiếm sống. Sau đó tôi mướn được một căn nhà nhỏ trong ngõ hẻm khu chợ Bến Đình gần trại gia binh Cô Giang ngày xưa. Đưa các con về ở đấy tưởng là đã yên thân, ai ngờ chỉ được hơn hai tháng là có mấy anh công an ghé đến hỏi thăm:

          – “Chồng đi cải tạo hơn hai năm chưa về, nếu chị muốn anh về sớm thì nên chuyển gia đình đến vùng Kinh Tế Mới ra sức trồng trọt làm ăn, anh sẽ được cách mạng khoan hồng xét cho anh về cùng với gia đình lo lao động để phục vụ xã hội chủ nghĩa”.

     May mắn cho tôi là chính tôi đã có một ít kinh nghiệm về lao động này rồi, phần nữa là do một số bịnh nhân bỏ những vùng kinh kế mới chạy về trị bịnh kiết lỵ sốt rét cho cả gia đình, mà tôi đã có lần săn sóc họ trong những tháng ngày qua, nằm la liệt trên sàng nhà và ghế công viên bệnh viện. Có lần tôi ra bãi trước, đói bụng ghé quán ăn tô phở, một bé trai cở con tôi lấp ló phía sau, tôi ăn xong vừa đứng lên, em bé vội vàng bước tới ôm ngay tô nước phở còn lại uống ngon lành. Tôi sững sốt vì quá bất ngờ, nghĩ đến các con tôi vội vả về nhà để yên chí là các con vẫn còn được bình yên. Lên Sài gòn cũng không khác gì hơn, còn tệ hơn nữa, họ bị mất nhà vì chính phủ đã chia cho họ những khoảnh đất khô khan cằn cỗi, ở một nơi mà họ chưa từng đặt chân tới, với những chòi tranh không điện không nước, tự lực cánh sinh với hai bàn tay xới đất trồng lúa trồng khoai, với số tiền ít ỏi dành dụm từ bấy lâu nay ngồi chờ mãi mà có thấy lúa gạo khoai sắn gì đâu. Hết tiền hết gạo phải quay về thành phố sống dật dờ ở đầu đường xó chợ. Họ và con cái trở thành hành khất của Hòn Ngọc Viễn Đông ngày nào. Ai ơi, thấy bắt não lòng!

     Ngày nào cũng có người ghé thăm, công an phường Bến Đình làm việc đắc lực thật. Đuổi thì tôi đi, nhưng tôi không đi kinh tế mới, tôi đi vượt biên, tôi quyết chí vượt biên với bất cứ giá nào. Tôi không muốn một ngày nào đó, nếu không có tôi, con tôi có thể chẳng có gì ăn và trở thành những em bé khất thực giữa chợ đời, tôi giật mình khóc rưng rức khi nhớ lại em bé uống tô nước phở còn lại của mình.

Còn tiếp

DTQT 28/11/2018.

image020image063image062image058

Những hình ảnh đau thương và nghèo đói 

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 4)

Cùng Bạn Đọc,

Mời Bạn  đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi”.

     Bé Duyên thấy mẹ và em về mừng quá chạy qua nhà kế bên khoe rối rít là:

  – “Mẹ về nhà rồi, mẹ đẻ một con mèo nhỏ chút xíu”, vừa nói Duyên vừa đưa hai cánh tay lên ra dấu bằng hai bàn tay cách khoảng nhau một đoạn nhỏ “có chút xíu” khiến bà hàng xóm qua thăm kể lại ai cũng cười. Tôi trải qua thời kỳ hậu sản thật buồn trong căn nhà tôi đã sinh ra và lớn lên. Ba tôi bị đau ở ngón chân nên nằm yên một chỗ không đi lại được nhiều. Cơm nước cho Ba tôi thì đã có chị Dâu vợ Anh Hai tôi lo và anh Cang săn sóc cho Ba. Tôi có mướn một bác gái để lo cho tôi và một cô gái nhỏ, mười hai tuổi, để trông, chơi với Duyên và Nghị nên tôi không đến nỗi bận bịu nhiều. Căn nhà Anh Chị Hụê Mai bị Việt cộng phá nát năm trước đó nên, gia đình Anh Chị Hụê Mai cũng sang ở cùng nhà nên tôi không đến nỗi cô đơn lắm, tuy hơi chật. Trước đó, vì thấy nhà rộng không có ai ở Ba cho mướn bớt một căn không thể lấy lại ngay được. Tôi dời lên ở chung với Anh và Chị Dâu thứ Bốn, của Ba Me, nhà rộng cho thoáng mát. Anh Chị Bốn và các cháu rất vui khi đón chúng tôi. Ở cạnh Anh Ba và Chị Ba cũng thật vui, bé Lãy cứ hay bế Nghị và kéo Duyên qua vườn sau nhà Anh Chị Ba để vui đùa nên tôi không lo các cháu ra đường, sợ xe cộ. Anh Chị Hụê Mai được di chuyển ra Huế để làm việc. Ba lại sống một mình với anh Cang! Thương Ba quá đi thôi.

     Một điều đáng nói ra lúc bấy giờ là Bộ Y Tế cho tôi lãnh cả năm lương bỏ nhiệm sở, thật là một điều vô cùng xúc động cho tôi lúc bấy giờ, tôi thầm cảm ơn ông Chánh văn phòng Bộ Y Tế, đã thông cảm cho hoàn cảnh đáng quan tâm của tôi và có lẽ ông đã hiểu vì sao tôi bị đổi đi Dacto lúc bấy giờ, vì sao tôi đã từ chối không trở về làm việc dưới quyền ông trưởng ty nọ.

     Sau khi lo xong nơi ăn chốn ở cho Duyên và Nghị chồng tôi xin nghỉ phép để về thăm vợ con. Lúc trở vào Anh đưa Duyên, Nghị vào Vũng Tàu ở với Anh và Bà Nội của hai cháu, từ Sài gòn xuống. Bà bằng lòng xuống Vũng Tàu giúp chồng tôi trong lúc chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh bối rối này. Một lần nữa phải nói là tôi mang ơn Mẹ chồng tôi nhiều, rất nhiều. Hòa được hai tháng tôi bế con trở vào Tam Kỳ làm việc, tạm trú trong phòng trực của Khu Hộ Sinh Tam Kỳ để có thể vừa làm việc vừa săn sóc con, vừa làm đơn xin thuyên chuyển theo chồng, đó là những điều mà tôi không thể nào xao lãng được. Hòa được năm tháng rưỡi tôi mướn được một chị giúp việc nên tôi đưa Hòa cùng chị Sáu vào Vũng Tàu sống với Bà Nội và Bố cùng hai đứa con lớn Duyên, Nghị. Tôi trở lại nhiệm sở một mình. Bấy giờ tôi sống đời ở trọ, ăn cơm tháng nhà người quen, rảnh rỗi đi lang thang buồn và nhớ con quá! Không biết chị Sáu có săn sóc các con được không đây?

     Bộ Y Tế cấp cho khu Bảo sanh Tam Kỳ một chiếc xe nhỏ để đi vãng gia, nhưng chẳng có cô nào biết lái xe hơi, tôi xung phong học lái và ông Bác sĩ Trưởng ty thân hành tập tôi lái chiếc xe hơi nhỏ, chở tôi đến một cánh đồng rộng, không có xe và người qua lại. Ông nhường tay lái qua cho tôi nói tỉnh bơ:

        -“Cô lái đi đừng sợ gì hết”

Tôi hồi hộp quá nhưng cứ đánh bạo cầm tay lái rồi hỏi ông:

        -“Chạy sao đây không có đường sá gì hết làm sao chạy?”.

Ông cười nhẹ nhàng bảo tôi:

        -“Như thế mới chạy được, chạy được rồi mới chạy ra đường chứ”. Ông dạy tôi cầm tay lái thế nào, đạp ga và thắng ga ra sao. Vậy là tôi cứ làm theo sự chỉ dẫn của ông chẳng chút ngại ngần, chạy từ từ rồi nhanh dần, chạy đi đâu cũng được, miễn chạy được là được. Một tiếng đồng hồ sau tôi chạy vững, BS bảo:

        -“Bây giờ chạy về bệnh viện đi”

     Tôi hết hồn nhưng vẫn làm theo lời ông, lái xe ra đường cái, run quá nhưng tôi lái xe về đến bệnh viện an toàn, ông Bác Sĩ có vẻ bằng lòng tôi lắm, và những buổi thực tập lái xe tiếp theo của tôi được ông giao cho một anh quân nhân, tài xế lái xe cho ông. Cuối cùng tôi điều khiển được chiếc xe bốn bánh! Cảm ơn Bác Sĩ Trưởng Ty. Và sau đó những lần đi vãng gia tôi lái chiếc xe hơi nhỏ đi với một em Nữ Hộ Sinh Hương Thôn mà không phải làm bận rộn đến bác tài xế của bệnh viện nữa. Sau khi tôi rời Tam Kỳ vào Vũng Tàu hình như một chị khác tập lái xe để đi vãng gia về sau này.

**********

     Tôi bước vào nhà, Duyên thấy tôi là khóc vì mừng và hình như có hơi giận tôi thì phải vì tôi xa chúng quá lâu, Nghị đứng nhìn mẹ không nói gì vì tôi bận chạy đến với bé Hòa đang ngồi trên giường, bị bà Nội giữ cho khỏi rơi bằng một sợi dây an toàn, để Nội có thể vừa làm việc vừa có thể canh chừng cháu, bé Hòa không cho tôi ẵm vì thấy lạ. Bé được mười hai tháng mà chưa biết đi vì còn yếu. Bà Nội thật bận rộn với các cháu thấy thương quá, bà kể chuyện: “Con Sáu bỏ đi mất hai ba tháng nay nên muốn làm gì là phải “cột” hắn (Hòa) lại”. Tôi ôm lấy các con, bật khóc vì nhìn thấy hoàn cảnh gia đình mình như vậy. Cũng may là chồng tôi chỉ đi dạy học cho các con em quân nhân tại trường Thiếu Sinh Quân chứ không đi tác chiến như lúc còn ở Hội An, nhờ vậy anh cũng có thể chăm sóc các con được phần nào. Chúng tôi được chính phủ cấp nhà ở, không phải đóng tiền, trong trại gia binh trước trường, có tên là Trại Cô Giang, chỉ bước ra khỏi cổng băng qua đường là đến ngay nơi làm việc. Còn tôi, bệnh viện xa nên tôi phải đi xe “Lam” đến sở. Trạm xe gần ngay trước trại Cô Giang nên cũng rất tiện nghi.

     Sau khi trình diện nhiệm sở mới, tôi xin nghỉ một tuần để vui hưởng những gì tôi đã thiếu thốn bấy lâu nay. Chị Tư được mướn để lo việc nhà và cơm nước cho chúng tôi. Bà Nội các cháu được nghỉ ngơi, có thể ngồi yên, hoặc đọc sách đọc báo mà không bị các cháu làm rộn. Đây là khoảng thời gian tôi cảm thấy tôi thật sự hạnh phúc không còn lo âu sợ hãi nữa. Cảm ơn Mẹ chồng, tôi thương Mẹ chồng và thật lòng kính trọng Ông Bà Nội của các con tôi. Nói cho đúng vì tôi làm dâu Huế nên nếu sơ ý tí xíu là cũng có thể làm phật lòng Mẹ chồng nên bao giờ tôi cũng cố gắng giữ tròn bổn phận làm dâu cho phải đạo. Tôi nhớ có một lần tôi đi trực phiên sáng, vì quá hấp tấp nên bước ra cửa trước quên chào bà cụ, sực nhớ lại ngay, nên vội vòng lại cửa bên, làm bộ như chưa ra khỏi nhà, lên tiếng tự nhiên:

   – “Thưa Me con đi”.

   Mẹ chồng tôi mỉm cười, tay cầm quạt phe phẩy:

   – “Ừ, đi chiều về, hôm nay con trực sáng phải không, thôi con đi kẻo trể”.

   – “Dạ, thưa phải đó Me, con đi đây.”

Trời, hú vía, vậy là mẹ chồng tôi biết tôi trực sáng, vì vội vàng hấp tấp nên quên chào chứ tôi không qua mặt được Me tôi đâu nhé! Bà còn sáng suốt lắm.

   Chồng tôi là một trong các Huynh Trưởng của nhóm Hướng Đạo Sinh ở Vũng Tàu, thường tổ chức cho các em đoàn sinh đi cắm trại, trong đó cũng có một số các em ở trường trung học Thiếu Sinh Quân tham gia vào. Tình thầy trò trộn thêm tình hướng đạo nên tôi thấy các em Thiếu Sinh Quân và chồng tôi đối xử với nhau như tình anh em vậy, thật đáng quý.

     Vũng Tàu có nhiều phong cảnh đẹp, chúng tôi thường đưa các con đi du ngoạn Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, có chụp ảnh rất nhiều để làm kỷ niệm, nhưng bây giờ tôi không còn giữ được tấm nào, thật lấy làm tiếc vô cùng. Thứ bảy và chủ nhật, Vũng Tàu đông người lắm, họ từ Sài gòn đi nghỉ mát, nhập cùng dân địa phương để được tắm, được bơi lội trong nước biển mặn mà mát rượi. Phải nói là tuyệt diệu, Sài gòn nóng bức ồn ào bao nhiêu thì Vũng Tàu lại mát mẻ yên tỉnh bấy nhiêu, cho nên du khách đến thật đông. Kèm theo những lúc đưa gia đình du ngoạn chứng tôi cũng nhập cùng những người đi tắm biển thật vui.

     Cũng có những giải trí khác như: mỗi khi rạp hát có quảng cáo chiếu phim Lý Tiểu Long là thế nào chúng tôi cũng kéo nhau đi xem cho bằng được, gia đình tôi ai cũng thích tài tử Lý Tiểu Long trong những phim đánh võ, một mình đánh thắng cả đám hung hăng!

     Bé Duyên đến tuổi vào mẫu giáo, rồi Nghị cũng nối chân theo chị đi học lớp mẫu giáo trong trại Cô Giang. Con gái tôi được Ông Nội, mỗi khi từ Sài gòn xuống thăm, dạy đánh cờ tướng, thường chơi đánh cờ với Ông Nội nên cũng khá về phương diện này. Thỉnh thoảng có anh Tăng học bên trường Thiếu Sinh Quân đến thăm nhà, anh và bé Duyên cũng chơi cờ tướng với nhau, có lúc bé chấp anh Tăng một xe hoặc một pháo mà vẫn thắng, vậy mới tài chứ! Anh Tăng cứ khen hoài.

     Có một thay đổi bất ngờ, cuối năm 1973 chồng tôi phải di chuyển lên Pleiku để giúp các em học sinh thuộc trường Thiếu Sinh Quân cao nguyên, vùng này có một số các em thuộc gia đình quân nhân người Thiểu Số. Chồng tôi khi ra đi có mang theo mấy cuốn album ảnh của gia đình vì thế cho nên khi cao nguyên thất thủ năm 1975 anh bỏ lại tất cả, theo đoàn người chạy loạn, chỉ kéo theo được một em Thiếu Sinh Quân người dân tộc thiểu số về đến Vũng Tàu, sau 30/04/1975 em muốn trở về Pleiku nên chồng tôi lo cho em được toại ý. Cuộc đời của vợ chồng chúng tôi thay đổi theo thời thế từ lúc bấy giờ.  

     Nước mất thì nhà tan, tất cả chúng tôi sống trong trại Cô Giang đều bị đuổi ra khỏi trại, tự tìm nơi trú ngụ ở ngoài. Bác Đàm, một người đàn bà góa tử tế, cho chúng tôi ở trọ trong căn nhà nhỏ của bà. Sau khi lo cho mẹ con chúng tôi có nơi ăn chốn ở, hai tuần lễ sau chồng tôi bị Cộng sản đưa đi học tập. Tất cả Sĩ quan và công chức cao cấp miền Nam Việt Nam đều phải đi học tập cải tạo, nói là học tập chứ thật ra tất cả bị đi tù cải tạo thì đúng hơn. Họ bảo đi học tập mười lăm ngày, nhưng sau một năm rồi hai năm cũng chẳng thấy ai được trả lại tự do. Thời gian đó tôi vẫn còn làm việc tại Vũng Tàu, ban ngày đi làm việc ban đêm đi học tập, cuối tuần đi đào mương, vét rãnh cho nước vào ruộng, nước ngập bùn lầy lên ngang lưng quần, khiến tôi lo lắng, họ gọi đó là: “làm lao động Xã Hội Chủ Nghĩa”. Ba tháng sau chúng tôi mới được lãnh lương lần đầu tiên sau ngày mất nước. Trong thời gian không lương tôi tiêu hết tiền để dành, nên đến lúc đổi tiền tôi cũng chẳng còn tiền đâu mà đổi. Lương bây giờ tính theo tiền mới, vật giá leo thang vùn vụt lãnh lương xong mua chẳng đủ ăn cho một tháng vì thế đồ đạc trong nhà đi ra vùn vụt, TV, tủ lạnh, giường ngủ đôi, áo quần giày dép sang trọng đẹp đẽ cũng bay theo, vàng vòng nhẫn hột cũng rủ nhau đi đến tiệm cầm đồ, rồi mất luôn vì không có tiền chuộc lại. Kinh nghiệm đầy mình nên những lần sau không cầm nữa, bán luôn cho rãnh nợ. Tôi bận đi làm, không có ai ở nhà chăm các con, chúng bỏ học đi chơi tôi cũng không hay biết, hôm nào trực đêm tôi đưa hết các con đến bệnh viện ở lại với tôi, không bao giờ tôi để các con tôi ở nhà ban đêm khi tôi đi vắng.

    Sau lần bị đổi qua làm việc ở các phòng bệnh truyền nhiễm, vì đi mời một Bác sĩ “Ngụy” mà không trình “Ban Lãnh Đạo”, chị Oanh nghe một bà Bác sĩ đang làm ở sở Du lịch Vũng Tàu muốn có một Nữ Hộ Sinh qua làm việc trong các khách sạn Vũng Tàu, chị giới thiệu tôi qua đó làm việc để không còn bị trù dập lệ thuộc “Ban Lãnh Đạo” bệnh viện nữa. Thôi kệ làm đâu cũng được miễn tránh được cái Ban Lãnh Đạo ác ôn này cho đỡ chán. Bước vào văn phòng bà Bác sĩ trưởng khu Du Lịch Vũng Tàu, vừa trông thấy bà là tôi muốn bước ra ngay nhưng đã gặp mặt nên đành phải ngồi xuống để được phỏng vấn. Sau phần trình bày lý lịch bà cho tôi biết nhiệm vụ của tôi là: chỉ “Thực Hành Việc Phá Thai” cho các chiêu đãi viên đặc biệt trong khách sạn, người có nhiệm vụ “đi” với khách hàng. Tôi hết hồn, rùng mình từ chối. Bà Bác sĩ hỏi tại sao? Tôi thành thật trả lời bà ta: “luật lệ trong Nam cấm phá thai, ngoại trừ trong trường hợp để cứu người mẹ vì bị động thai và băng huyết quá nhiều không thể giữ thai nhi được, hoặc mẹ bị bịnh nặng về tim, phổi, thận, ung thư v…v… không đủ sức mang thai vả lại học ngành này tôi chỉ biết dưỡng thai chứ không được phá. Vậy là bà nổi giận trả lời tôi: “Cái chính quyền miền Nam của các chị chỉ biết nói ở cái miệng chứ giết hại không biết bao người rồi. Sao phá thai chị cho là có tội? Sao chị không nghĩ đến tương lai của người con gái là sau đó họ có thể lập gia đình?”.

     Tôi lắc đầu đứng dậy chào đi ra, không thèm ngó lại. Về đến bệnh viện kể lại cho chị Oanh nghe sự việc: “Chính phủ có mở nhà điếm, chứa gái điếm nữa, nếu em qua đó thì chỉ có việc phá thai cho mấy cô gái làng chơi, do nhà nước điều khiển thôi”. Chị ngẩn người ra kêu: “Trời” rồi im luôn. Tôi về nhà ngủ không được, cứ suy nghĩ mãi quanh quẩn hoài trong trí tưởng cái tương lai lạ lùng sẽ úp xuống đầu chúng tôi, con cháu chúng tôi, cái tương lai đen tối không cùng đến thế sao?

Còn tiếp,

DTQT. 27/11/2018.

Pho co Hoi an

 

NHẬP GIA TÙY TỤC.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã Thảo viết bài này năm 1984, tự nhiên hôm nay đọc lại sau ba mươi bốn năm thấy cũng kỳ và hơi lạ nữa. Bây giờ không biết DT có khác xưa nhiều lắm không, chính mình không phân biệt được những thay đổi của chính mình thì còn nói gì những chuyện đã viết cách đây mấy mươi năm. Tuy thế DT cũng muốn post lên để các Bạn đọc và cho DT biết những suy nghĩ của Thảo có còn “hợp lệ” hay không? Hay Thảo đã thuộc về loại già khú đế không còn thích hợp với thời đại mới nữa. Nếu có Bạn đồng ý với DT xin cho Thảo vài lời khuyến khích để Thảo lấy lại sự tự tin của mình. Thành thật cảm ơn Các Bạn.

Thân mến, mời Bạn đọc:

Nhập Gia Tùy Tục.

      Đàn bà Việt-Nam chúng ta không có thói quen uống rượu hút thuốc lá như đàn bà Tây Phương. Nhất là không có thoái quen kéo nhau vào quán rượu sau một ngày làm việc mệt nhọc, uống cho nghiêng ngã, bước ra khỏi quán rượu nhàu nhèo nồng nực. Lần mò về đến nhà thì chẳng biết trời đất là đâu cả. Rủi ro gặp một tên du thủ du thực nào đó lái xe chạy qua thấy được, ấy vậy là hắn chẳng ngần ngại gì mà không bốc bỏ lên xe lôi ra chỗ vắng…và sáng hôm sau thấy báo đăng: “Tìm thấy xác một người đàn bà như thế… như thế…”

     Con gái ở đây cứ cho là mình có đủ quyền sống tự do khi đến mười sáu tuổi. Vì thế cho nên các cô cứ đợi đến lúc đó là bỏ mẹ bỏ cha bỏ anh chị em chạy theo bạn bè sống tự do trác táng. Lắm cô tự ý sống chung với bạn trai, nhưng sau một thời gian rồi tan vỡ. Có lắm cô rơi vào con đường sa đọa mà không thể nào quay trở lại được. Có cô không dám quay về vì đã bị cha mẹ từ bỏ. Cũng có trường hợp các cô không muốn quay về vì cuộc đời đã hư hỏng lại còn đeo thêm thói xấu nghiện rượu nghiện ma túy v… v…

     Nhu cầu của cuộc sống thì quá cao mà các cô tuổi còn quá trẻ, tình trạng không có công ăn việc làm kéo dài khiến các cô không đủ sức chu cấp cho những nhu cầu cần thiết cho chính mình, do đó các cô dễ rơi vào tay của các tú bà.

     Xã hội nào cũng có cái xấu và cái tốt của nó, Thảo không dám ngạo mạn chỉ trích và phê bình. Mặc dầu chúng ta thường hay nói: “Nhập gia tùy tục”, tuy thế chúng ta cũng nên tùy cái tục mà bắt chước.

     Ví dụ chúng ta vẫn gọi ông nhạc bà nhạc là cha mẹ, nhưng ở đây thường hay thấy lớp trẻ gọi tên tộc của cha mẹ hai bên và của cả ông bà nội ngoại nữa. Họ cho thế là thân mật. Thử nghĩ, nếu mình lấy cái “tục” đó mà “nhập” thì chắc là kỳ lắm.

DTQT. 24/11/2018. 

Vịt mẹ và vịt con                                                                                   

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 3)

  Cùng Bạn Đọc,

     Mời Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi” . Chuyện còn dài vì thế cho nên DT phải ngắt ra nhiều đoạn, chứ đọc một lần thì sợ cần nhiều thời giờ của Các Bạn, mong Bạn vui lòng đọc hết, cảm ơn Bạn rất nhiều.

Thân mến,

DTQT. 23/11/2018.

     Năm 1964 tôi tốt nghiệp, ra trường về lại Hội An sống với Ba và em Kiến một thời gian không lâu lắm, Ba Me Anh Kỳ vào Hội An cùng Ông Bà Hồ Ngận đến thăm Ba và xin tổ chức lễ đính hôn cho chúng tôi. Anh Kỳ là cháu gọi Bà Hồ Ngận bằng Cô, Bà là cô giáo của tôi lúc tôi còn học ở tiểu học, Ông Hồ Ngận là cựu Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Nam và là bạn của Ba tôi, cho nên việc hỏi cưới của chúng tôi không có gì trở ngại. Xong việc vị hôn phu của tôi phải đi vào tận Thu Xà thuộc tỉnh Quảng Ngãi vì anh được bổ dụng về dạy ở trường Trung Học Thu Xà xa xôi đó. Tôi có đến thăm anh vài tuần trước khi được sự vụ lệnh của Bộ Y Tế đưa lên làm việc tại Kontum, miền cao nguyên trung phần Việt Nam.

     Một thời gian sau, theo lời khuyên của Ba tôi: “Kỳ đừng để Quế ở một mình trên đó, coi chừng mất vợ”. Anh vâng lời Ba từ giã Thu Xà lên Kontum sống cùng tôi. Vị hôn phu tôi dạy học ở trường trung học tư thục Bồ Đề. Năm 1965 chúng tôi về Hội An tổ chức làm đám cưới vào ngày 13/09/1965. Anh vừa là giáo viên vừa là Huynh Trưởng của các em học sinh Phật tử nên nhà chúng tôi lúc nào cũng rộn rịp tiếng cười vì, các em thường ghé thăm. Chúng tôi mướn nhà ở gần chùa Tỉnh Hội Kontum, có trường Trung Học Bồ Đề và cũng là nơi các em học sinh Phật tử đến sinh hoạt vào mỗi sáng chủ nhật. Sau khi có cháu Phước Duyên tôi quả thật bận rộn nên phải mướn một chị đến giúp việc cho chúng tôi. Chị Lan còn trẻ có một đứa con trai nhỏ, cở tuổi cháu Phước Duyên, bị chồng bỏ. Nghĩ thương cho hoàn cảnh chị, nên khi nghe chị muốn được giữ con trong nhà cùng với gia đình chúng tôi, tôi nhận lời ngay không ngần ngại. Vậy đó chứ chị Lan cũng giúp tôi được nhiều việc trong nhà lắm, chị cũng hiền lành và dễ thương nên con gái tôi cũng mến chị. Chồng tôi thỉnh thoảng đưa các em đoàn sinh Phật Tử đi cắm trại trong rừng, nơi có suối, có sông và, có một ngôi chùa nhỏ với vài Ni cô, tôi chẳng sợ gì mà không bế con gái Phước Duyên của tôi tháp tùng ông xã đi cắm trại và tiện thể thăm các Ni cô luôn. Và chị Lan có một ngày nghỉ chủ nhật thật bình yên ấm cúng ở nhà một mình với con trai chị, không phải bận rộn lo cơm nước cho chúng tôi. Có phải là “nhất cử lưỡng tiện” không! Rừng núi cao nguyên đẹp lắm, càng nhìn càng thấy mình bị thu hút, như bị hớp hồn vậy đó. Nước suối trong thật là trong để phô bày hết cái trung thực không dấu diếm cái đẹp thiên nhiên của tạo hóa dành cho dưới đáy lòng con suối. Chúng tôi chụp rất nhiều ảnh để kỷ niệm, nhưng bây giờ tôi không còn giữ được tấm hình nào sau những biến cố lao đao lận đận trong cuộc đời tôi sau này.

     Sau vụ Phật Giáo đưa Phật xuống đường chống kỳ thị Phật Giáo, một người bạn thân trong chính quyền lúc bấy giờ nghe tin không lành là chồng tôi có thể bị công an “mời” nên báo cho chồng tôi hay và quyết định giúp anh rời Kontum vào Sàigòn ngay ngày hôm sau để lánh nạn. Bé Duyên đã biết đi chập chững còn tôi đang mang thai được năm tháng. Chồng tôi về Sàigòn lên Phú Thọ ở nhà anh chị Hành, chị là cháu gọi Ông thân sinh chồng tôi bằng Cậu ruột. Anh viết thư về cho tôi hay và muốn tôi vào Sàigòn trước ngày sanh dự đoán vì Ba Mẹ chồng tôi đang ở Sàigòn với gia đình người con trưởng của Ông Bà. Tôi vào Sàigòn trước khi sanh một tháng và làm lễ thôi nôi cho bé Duyên có Ông Bà Nội đến làm lễ thôi nôi cho cháu nên cũng thật là vui.

     Tôi sanh được một cháu trai ở bệnh viện Hùng Vương Sàigòn. Chồng tôi quyết định sau khi tôi sanh xong và trở lại nhiệm sở, Anh sẽ vào quân trường Thủ Đức trình diện nhập ngũ vì Anh nói là tình hình chiến tranh đang đến hồi khốc liệt, Anh không trở lại Kontum đi dạy nữa, Anh muốn tòng quân thôi. Tôi thấy lo lắng chứ không có ý kiến gì trong việc này, vì tôi luôn nhận thấy Anh làm gì cũng có sự suy nghĩ cả. Tôi thấy Anh đúng nên không phàn nàn đòi hỏi gì, mặc dầu mẹ con tôi rất cần sự có mặt của Anh trong lúc này.

   Sau khi sanh gần hai tháng tôi trở lại nhiệm sở cùng với hai đứa con thơ, và mẹ con chị Lan giúp việc, Mẹ chồng tôi thấy hoàn cảnh của tôi như thế bà không đành lòng, nên cũng đi theo chúng tôi lên Kontum. Chúng tôi tất cả đi bằng Hàng không VN vì đường bộ quá xa và nguy hiểm vì Việt Cộng thường hay đặt mìn hoặc có thể chận xe lại để bắt cóc quân nhân hoặc những ai mà chúng nghi ngờ làm gián điệp, rồi sau đó thảm sát họ. Đến nơi, cả gia đình sáu người chúng tôi được một chị bạn thân cho tạm trú ở nhà Bảo Sanh Tư của chị. Được ba hôm, mướn nhà xong tôi lo mua sắm thêm ít đồ đạc cần thiết và dọn đến một căn nhà ba phòng khá rộng đủ cho sáu chúng tôi. Một điều đáng tiếc là chị Lan xin thôi việc. Nghe đâu chị trở lại Sàigòn và sống chung với anh gia nhân phụ việc cho Anh Chị họ của chồng tôi ở Phú Thọ. Tôi thật sự không biết chị Lan có được hạnh phúc hay không, chứ từ ngày chị rời gia đình tôi đến nay là bốn mươi bảy năm rồi tôi không nghe tin tức gì của Lan và con trai của chị. Tôi cầu nguyện cho mẹ con chị được ấm no hạnh phúc.

     Tôi thật vất vả, nhưng phải nói là tôi đã mang ơn Mẹ chồng tôi rất nhiều trong giai đoạn này, nếu không có Bà Nội các cháu thì quả thật một mình tôi thì chắc chắn là khó cho tôi lắm. Tết mậu thân năm 1968, chồng tôi, vẫn còn ở quân trường Thủ Đức, được về phép ăn Tết thăm gia đình ở Kontum. Đó là Tết có đình chiến nhưng Việt Cộng không giữ lời hứa và tấn công khắp nơi ở miền Nam. Đêm đó đánh nhau ngay trong thành phố Kontum. Đang nằm ngủ chúng tôi nghe đạn bắn khắp nơi, tôi tưởng thiên hạ đốt pháo mừng xuân nhưng không, chồng tôi nói:

   – “Không phải đâu em tiếng súng chứ không phải tiếng pháo, mình bị Việt cộng tấn công rồi”.

     Vậy là cả nhà vùng dậy chạy xuống phòng dưới, trải chiếu xuống đất nằm. Một tiếng nổ thật lớn của Việt cộng pháo kích rớt cạnh nhà người hàng xóm của tôi khiến tôi khiếp hồn ôm chặt lấy con gái tôi vào lòng, bà Nội ôm chặt cháu trai, mới bảy tháng tuổi, nằm sát đất miệng niệm: “Nam Mô Cứu khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” liên hồi. Tôi cũng niệm Phật theo Bà Nội các cháu. Tiếng súng vẫn nổ vang phía trước nhà ngoài đường cái, tôi vẫn tiếp tục niệm Phật và cảm thấy an tâm vì có chồng tôi kế bên trong giờ phút này, rồi tôi ngủ quên lúc nào không hay.

     Sáng hẳn rồi tôi mới giật mình thức giấc vì tiếng ồn ào trước và sau nhà. Nghe tiếng chị hàng xóm la lên, tôi bước ra cửa, phía hông nhà tôi cạnh hông nhà chị, chỉ cách nhau hơn vài thước, tôi nhìn thấy một góc mái nhà chị bị sập, mới vỡ lẽ ra tiếng nổ lớn, khiến tôi khiếp vía ôm chặt bé Duyên vào lòng miệng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát rồi ngủ luôn lúc nào không hay, đã rơi ngay mái nhà chị. Rất may là không có ai bị thương vì cả gia đình chị đều chạy xuống nhà sau như chúng tôi vậy. Chồng tôi kéo tôi ra cửa sau, chỉ cho tôi thấy một xác người nằm sát rào sau nhà, tôi sợ quá đóng cửa thật lẹ không dám nhìn lâu.

     Khoảng gần trưa có tiếng gõ cửa, chúng tôi mở cửa, một anh quân nhân Mỹ mang súng dài tỏ ý muốn vào nhà kiểm soát, chồng tôi ân cần mời anh vào. Sau khi nói chuyện và thấy bộ quân phục cùng cái mũ máng trên tường của chồng tôi, anh quân nhân Mỹ yên trí bước ra, chồng tôi nói cảm ơn anh quân nhân Mỹ trẻ tuổi đã canh giữ cho chúng tôi được yên bình đêm qua. Tôi nhìn ra đường thấy còn nhiều quân nhân khác cũng đang thi hành nhiệm vụ như vậy. Lúc ra sau bếp chúng tôi không còn thấy cái xác người nằm sát rào sau nhà nữa, vậy mà tôi vẫn không dám mở cửa sau.

     Hết phép ông xã trở lại quân trường Thủ Đức. Kontum sau đó cũng trở lại bình thường. Tôi tiếp tục những công việc hằng ngày. Được tin anh rể của ông xã, Anh Bửu Tuân, sẽ lên làm việc tại bịnh viện Kontum tôi vô cùng vui mừng và tôi mời anh chị Tuân Liên vào ở chung nhà với chúng tôi. Vậy là mẹ chồng tôi có cô con gái ở cạnh thật không còn gì vui hơn.

     Một việc bất ngờ xảy đến với tôi vì bỗng dưng tôi bị đổi lên Dacto, một vùng xa xôi hẻo lánh và vô cùng nguy hiểm vì ở đó là nơi thường xảy ra những vụ xung đột lớn với Việt cộng. Tôi lên gặp Bác sĩ Trưởng ty để hỏi cho ra lẽ vì sao tôi bị đổi trong khi tôi làm việc rất tận tâm và không phạm một lỗi lầm nào cả, tôi muốn chắc chắn phải có một lý do chính đáng, chồng tôi đang ở quân trường tôi không thể đưa con tôi lên tận rừng sâu nước độc như vậy được. Ông trưởng ty trả lời quanh co không rõ ràng và ông gần như không nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi bỏ nhiệm sở đưa hai con về quê, gởi hai cháu cho ông Ngoại cùng các cậu mợ của hai đứa con thơ, tức tốc bay thẳng vào Sài gòn đến ngay Bộ y tế trình diện và xin được gặp ông Chánh văn phòng bộ Y Tế để trình bày mọi việc và xin Bộ cứu xét. Tôi có trình bày về tình hình an ninh tại địa phương Dacto, dân chúng đang kéo nhau chạy về thành phố lánh nạn, đâu có ai cần đến một Nữ Hộ Sinh làm gì, dầu sao đi nữa cũng đã có cô đỡ hương thôn người địa phương săn sóc cho một số dân cư nhỏ ở đó rồi, dân đang cần quân đội để bảo vệ họ. Và chồng tôi đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ông Chánh văn phòng ngồi nghe tôi trình bày một cách chăm chú, thỉnh thoảng hỏi tôi một vài câu để xét đoán sự việc rồi ghi chú vào một hồ sơ đang để trước mặt ông, có vẻ cảm động về hoàn cảnh hiện tại của tôi. Ông bảo tôi có thể trở về nhiệm sở và ở đó làm việc chứ không cần đi Dacto. Tôi từ chối vì không muốn làm việc dưới quyền ông Bác sĩ trưởng ty đó nữa. Ông nhìn tôi cười và nói ông hiểu và thông cảm cho tôi lắm. Ông hỏi thêm vài câu về các con tôi hiện tại như thế nào, tôi thành thật nói hết cho ông nghe, ông nghe xong bảo tôi: “Thôi bà về ngoài trung với các cháu, để đây tôi sẽ giải quyết cho bà”. Tôi cảm ơn ông Chánh văn phòng, đi ra mà nghe phơi phới nhẹ nhỏm trong lòng. Hôm sau ra chợ Bến Thành mua cho mỗi đứa con một bộ áo quần thật đẹp rồi trở về Hội An ngày hôm sau.

     Chồng tôi ở Quân Trường Thủ Đức ra, xin về phục vụ tại Hội An, Anh nhận nhiệm vụ đến trấn thủ ở Cẩm Nam dưới quyền chỉ huy của một Đại úy Đại đội trưởng. Có lần qua Cẩm Nam thăm chồng ở ngoài tiền đồn, tôi đi lang thang ngó đây ngó đó trên những đường hầm chung quanh, một anh lính thấy vậy gọi tôi rối rít: “Chị Hai ơi, xuống đi, coi chừng bị bắn sẽ ”, tôi quay lại thấy anh quân nhân, thường hay đi với chồng tôi mỗi khi Anh về thăm vợ con, đứng cạnh chồng tôi tay vẫy miệng cười. Vội vàng tôi tuân lệnh bước xuống ngay không dám chần chừ tự nhủ thầm: “sao mình ngu quá để chồng và bạn lo lắng, đáng lý mình phải biết chuyện đó mới đúng!”.

     Chồng tôi thường di chuyển vị trí chứ không ở hoài trấn giữ một nơi, có lần Anh đóng quân ở căn cứ địa đầu đi vào thành phố Hội An, một đêm nọ tôi nằm ngủ bỗng giật mình nghe súng nổ thật nhiều về hướng đó, tôi hồi hộp quá. Thì quả đúng nơi anh đóng quân bị Việt cộng tấn công, hai bên bắn nhau đến sáng, Anh và các quân nhân giữ được tiền đồn. Lúc anh về, bước vào nhà vứt “ba lô” vào một góc rồi anh nằm lăn ra giường. Tôi biết Anh đang rất mệt nên cố giữ im lặng. Một lúc khá lâu anh ngồi dậy kể lại chuyện bị tấn công đêm qua Việt cộng bị bắn chết khá nhiều, mà họ vẫn cứ tràn lên, hết lớp này đến lớp khác, đến sáng mới chịu rút lui, rồi các sĩ quan cao cấp trong chính quyền đến thăm ủy lạo và gắn huy chương. Sau trận đánh này anh có ba ngày phép ở nhà với vợ con. Anh cao như cây tre và ốm như con cò, trông thương quá. Tôi thật lo cho tánh mạng của chồng tôi ngoài chiến tuyến. Sau một thời gian ở ngoài tiền đồn đi hành quân tứ hướng ở Hội An, chồng tôi được chuyển về đơn vị không tác chiến tại tiểu khu Quảng Nam. Lúc bấy giờ tôi được sự vụ lệnh của bộ Y tế chuyển vào làm việc ở Tam Kỳ, tôi đi cùng chồng vào Tam Kỳ nhận nhiệm sở trong lúc tôi mang thai bé Hòa hơn năm tháng. Chúng tôi được hai vợ chồng người cháu gái của chồng tôi, Phương Khanh, cũng là bạn cùng khóa 5 Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, tiếp đón nồng hậu và Phương Khanh đã mở rộng vòng tay cho tôi ở trọ nhà Phương Khanh chờ đến ngày sanh.

     Tam Kỳ cũng thuộc tỉnh Quảng Nam, cách Hội An hơi xa nên tôi phải sống xa chồng con, chỉ về thăm gia đình vào mỗi cuối tuần. Theo lệnh cấp trên chồng tôi vào Sài gòn học về hành chánh tài chánh, khoảng ba tháng. Khóa học hành chánh chấm dứt, tôi ngỡ anh sẽ trở lại Hội An, nhưng không, Anh viết thư cho biết là Anh được đưa đến phục vụ tại Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu! Vậy là chúng tôi lại xa nhau nữa. Lúc chuyển dạ bé Hòa Anh Chị Mai Hụê đưa tôi vào Bảo Sanh Viện Hội An, vào buổi chiều nhưng đến tối mới sanh và cô Hồ Thị Bán, bạn cùng khóa 5, là người đỡ sanh cháu Hòa, ngày 04/08/1969, Cháu bé tí teo, cân chỉ được hai ký mốt bốn chục, cô Bán nói: “may mà Quế lên bàn sanh kịp chứ không thôi là sinh rớt rồi đó”. Phải nuôi cháu trong lồng kính, thấy cháu không khóc không bú tôi buồn quá nên khóc hoài. Chị Mai vào thăm khuyên không nên khóc, Chị nói:

           -“Em mới sanh mà khóc hoài không tốt đâu, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm thần nhiều lắm”. Tôi vừa khóc vừa nói:

          -“Em cũng biết vậy chứ, nhưng không làm sao ngăn được nước mắt, Bố cháu đang ở xa chị biết không, thương con quá đi thôi!

     Ba hôm sau “hắn” mới bắt đầu bú nhưng rất ít, rồi lại ngủ nữa, có khổ không chứ! hai bầu sữa bắt đầu căng rồi đó, phải đi mượn cái hút sữa chứ không thôi con không bú thì sữa cũng từ từ giảm dần rồi hết luôn thì làm sao đây. May quá đến hôm sau “hắn” bú lâu hơn, lúc đó tôi mới yên tâm đưa cháu về nhà.

Còn  tiếp,

                                                                                                                                 DTQT. 23/11/2018.

HOA 004
Quế và Bé Hòa ở bãi biển Vũng Tàu

GÁI ĐIẾM NHƯNG NÓ HƠN XA

Cùng Bạn Đọc,

     Nhận được câu chuyện này từ Anh Longkangaroo sáng nay, Dã-Thảo đọc nghe xúc động, nghe lo lắng trong lòng. Cái xã hội Việt Nam của chúng ta nó tệ hại, nó lũng đoạn đến như vậy sao? Lương tâm con người ở đâu mất rồi? Những ông Bác Sĩ, những cô y tá, những người được quí mến ngày xưa không còn nữa. Bây giờ không lẽ sau mấy chục năm bị nhồi sọ bởi cái “CNXHCS”, con người trở nên “dơ dáy, bẩn thỉu” đến vậy sao! Dã-Thảo thành thật xin lỗi các vị Bác sĩ, các cô y tá vẫn còn có tấm lòng nhân hậu thương yêu bịnh nhân, không phân biệt giàu nghèo, chỉ thấy việc cứu người là trên hết. Xin đừng cho là DT vơ đũa cả nắm. Dưới đây là câu chuyện không thấy để tên tác giả, cuối bài chỉ để hai chữ ST, không biết có phải là “Sưu Tầm” hay không! 

GÁI ĐIẾM NHƯNG NÓ HƠN XA CÁI THỨ CÓ ĐỊA VỊ XÃ HỘI MÀ VÔ CẢM!

     Trời bừng sáng sau cơn mưa đêm…Bầu không khí tươi mát ùa vào căn phòng trực cấp cứu của bệnh viện. Cô y tá trẻ mặc bộ blouse trắng nhận ca trực, cô vừa lật cuốn sổ ghi chép của ca trước vừa sửa lại bình hoa tươi trên bàn. Hai má cô ửng hồng, đôi mắt long lanh và làn môi xinh tươi như hoa hồng mới nở. Cách đó không xa, ông bác sĩ tuổi trung niên ngồi trước bàn làm việc của mình, mỉm cười nhìn dòng chữ “Thầy thuốc như mẹ hiền” uốn bằng đèn huỳnh quang màu đỏ tươi rực rỡ vừa mới sắm.

     Bỗng một chiếc xe gắn máy phóng thẳng tới cửa phòng cấp cứu. Gã lái xe mặt mày bặm trợn, ngồi sau là cô gái mặc mỗi chiếc áo nịt, phấn son nhòe nhoẹt. Cô ta đang ôm một thằng bé chừng mười tuổi được quấn trong cái áo khoác phụ nữ loang máu.

     Gã lái xe giật thằng bé trên tay cô gái rồi bồng vào trong phòng, nói với cô y tá:

   –Bác sĩ ơi cấp cứu!

Cô y tá rời mắt khỏi cuốn sổ:

  Sao vậy ?

   –Thằng bé bị tai nạn giao thông !

   –Anh là bố nó à ?

   – Không, tôi lái xe ôm

   –Thế còn cô kia ?

Cô y tá liếc mắt về phía cô gái ăn mặc hở hang đứng ngoài cửa rồi bĩu môi cau mặt. Nước mưa đã cuốn trôi lớp son phấn rẻ tiền trên mặt cô ta để lộ ra lớp da nhợt nhạt. “Trông chẳng khác gì gái điếm đứng đường mạt hạng. Vào nơi công cộng mà dám phô ra như thế à” – Cô y tá nghĩ.

     Quả thật cô gái mặc áo ngực ấy là một gái điếm nghèo, sáng sớm nay cô đang đi xe ôm của gã kia về phòng trọ thì gặp thằng bé bị tai nạn nằm ngất bên đường. Chiếc xe nào đã quẹt phải nó rồi bỏ chạy luôn. Thương hại, cô cởi áo khoác quấn cho thằng bé rồi cùng anh xe ôm đưa nó đến đây.

     Gã xe ôm bối rối liếc qua cô gái, ấp úng trả lời cô y tá:

   À! Cô này…

Cô y tá xinh đẹp không thèm nhìn hai người, cất giọng lạnh lùng:

   – Sang bên kia làm thủ tục nhập viện.

Gã xe ôm đặt thằng bé xuống thềm, rồi chạy sang dãy nhà đối diện. Người bảo vệ chỉ cho gã cái lỗ hình vuông bằng hai bàn tay trên tấm kính dày, chung quanh bịt lưới sắt. Gã khom lưng nhìn vào trong ô vuông đó, thấy gương mặt hồng hào của người nữ nhân viên ngồi sau chiếc bàn chất đầy sổ sách. Gã nhũn nhặn:

   – Chị ơi, cho tôi làm thủ tục nhập viện…

Người phụ nữ không ngẩng mặt lên, nói máy móc:

   – Tên gì? Hộ khẩu? Chứng minh nhân dân? …

   – Dạ…thằng nhỏ mà!…

   – Thằng nhỏ à? … Anh là gì của nó?

   – Tôi lái xe ôm…Thấy nó bị tai nạn nên chở tới đây.

  Rắc rối đây! Sao anh không gọi bố mẹ nó tới làm thủ tục nhập viện?

Gã xe ôm nói lắp bắp:

   – Tôi đâu biết bố mẹ nó…Với lại gấp quá! Cấp cứu mà!

   – Thôi được! Nộp tiền tạm ứng viện phí.

   – Bao nhiêu chị?

   – Hai triệu.

Gã xe ôm ngẩn ra, hắn biết trong túi mình có chưa tới hai trăm ngàn.

Gã móc hết tiền ra rồi nói với chị nhân viên:

   – Tôi chỉ có bi nhiêu…Chị làm ơn cho thằng bé nhập viện, rồi tôi sẽ tìm bố mẹ nó tới thanh toán.
   – Không được! Anh không biết bố mẹ nó thì làm sao mà tìm?

   Chị làm ơn…Thằng bé sắp chết !…

   – Đã bảo không được! Chị nhân viên gắt, cộc cằn máy móc: Bệnh viện đã quy định. Gã xe ôm đành chạy trở lại lại phòng cấp cứu, hỏi cô gái điếm:

   – Cô có tiền không?…

Cô gái khẽ quay đi, moi trong chiếc áo nịt ra mấy tờ bạc được xếp cuốn chặt rồi đưa cho anh xe ôm. Anh ta mở ra: Chưa tới trăm ngàn! …

   – Bi nhiêu nhằm nhò gì? Anh xe ôm lắc đầu cau mặt.

Mặt anh xe ôm xám ngắt, mắt đỏ ngầu, hai hàm răng nghiến chặt của anh ta như muốn nhai nát cái gì đó…Cô gái điếm nhìn bộ mặt cau có của anh ta mà phát sợ, nói như phân trần:

   – Đêm qua mưa…tôi không có khách…

     Thằng bé nằm dưới thềm kêu khóc thảm thiết. Nhìn nó thật thê thảm: Chiếc quần đùi rách tươm để lộ ra cẳng chân dập nát, da thịt chỗ đó bầy nhầy. Máu vẫn chảy từ vết thương chưa được băng bó. Da thằng bé bợt nhớt như con cá ươn, ngực thoi thóp và đôi mắt long lanh đảo nhìn mọi người như cầu cứu. Trong túi áo ngực của nó còn thò ra xấp vé số ướt nhẹp.

     Gã xe ôm nhìn thằng bé mà ứa nước mắt. Gã chợt quỳ mọp xuống trước mặt ông bác sĩ, hai tay cầm mấy tờ bạc cô gái điếm vừa đưa đội lên đầu:

   – Tôi lạy bác sĩ! Bác sĩ làm ơn cứu thằng bé! …

     Khuôn mặt đen sạm của gã xe ôm méo mó khổ sở. Ông bác sĩ ngoảnh mặt đi chỗ khác, nhịp nhịp chân phải… Gã xe ôm biết có quỳ xin cũng không được. Gã đứng dậy nói với cô gái điếm.

   – Thôi được! Cô trông thằng bé, để tôi đi cầm đỡ chiếc xe vậy.

Cô gái điếm lau nước mắt:

   – Hay anh…để em qua phòng bên kia…bán máu ?

Gã xe ôm nhìn lướt qua thân hình gầy gò của cô gái, lắc đầu:

   – Cô thì có bao nhiêu máu mà bán? Chưa chắc họ đã chịu mua…

Gã nói xong hấp tấp chạy ra cửa bệnh viện.

     Lúc ấy phòng cấp cứu tiếp nhận thêm mấy bệnh nhân: Một cô gái tự tử vì thất tình, một anh chàng say rượu bị trúng gió và một người đàn ông bị nhồi máu cơ tim, ông này được đưa tới bằng xe hơi Mercedes kèm hai Honda @ hộ tống. Người thân của ông nhà giàu đứng chật phòng cấp cứu. Bà vợ mập mạp của ông ta nhanh nhẹn dúi vào tay bác sĩ và cô y tá mỗi người một phong bao:

   – Tốn kém bao nhiêu cũng được, bác sĩ mau mau cứu sống chồng tôi.

Ông bác sĩ vội vã rời cái bàn như bị bắt vít từ sáng, cô y tá cuống quýt đẩy băng ca…Ông bệnh nhân “đại gia” được đưa thẳng vào phòng chăm sóc đặc biệt không cần qua thủ tục nào. Trong khi đó, thằng bé bị bỏ quên ngoài thềm cùng cô gái điếm.

… Ánh mặt trời rực rỡ chiếu xuống sân bệnh viện. Ba lá cờ phấp phới tung bay trên đỉnh cột thép không rỉ, trên cùng là cờ đảng, giữa lá cờ nước và dưới cùng là cờ bệnh viện với hình con rắn mổ cái cốc thủy tinh. Cuộc chào cờ buổi sáng thứ hai của cán bộ nhân viên bệnh viện vừa kết thúc. Người thân của những bệnh nhân nghèo kéo nhau tụ tập dưới chân cột cờ để nhận cơm, nhận cháo từ thiện của một sư bà mang tới.

     Đang múc cơm cháo cho mọi người, sư bà bỗng nghe tiếng kêu rên của thằng bé từ phòng cấp cứu vọng ra. Bà ngừng tay lắng nghe… tiếng kêu rên càng lúc càng rõ hơn… Bằng tâm thức của một người tu hành, sư bà thấu hiểu tiếng kêu tuyệt vọng của một sinh linh. Bà vội trao công việc phát cơm cháo cho người khác rồi chạy tới.

     Thằng bé đã kiệt sức, mắt nhắm nghiền…Cô gái điếm bất lực ngồi bên cạnh. Sư bà cúi sát xuống khuôn mặt trẻ thơ trắng bệt:

   – Nam mô A Di Đà Phật!…

     Thằng bé mở mắt nhìn bà sư, nước mắt nó ứa ra. Sư bà nhìn chiếc áo phụ nữ vấy máu, rồi liếc qua cô gái ốm yếu ăn mặc hở hang phong phanh…Bà hiểu ngay sự tình, liền quay lại chỗ phát cơm cháo từ thiện, nói với mọi người:

   – Thưa quý vị! Trong kia có một đứa trẻ đang hấp hối vì không có tiền nhập bệnh viện. Tôi biết quý vị ở đây cũng không giàu có gì…

     Sư bà chỉ nói được như vậy. Những người nghèo khó lại có trái tim nhạy cảm, họ hiểu ngay điều sư bà muốn nói và việc cần làm. Thế là chiếc vung nồi cháo từ thiện biến thành thùng công đức…

     Vừa lúc đó gã xe ôm trở về, mặt mướt mồ hôi. Gã đã cầm được chiếc xe gắn máy là cần câu cơm của gia đình, phải năn nỉ mãi mới được triệu rưỡi, cộng với số tiền của gã, của cô gái và lòng hảo tâm của nhiều người nghèo, may quá được hơn hai triệu! Đủ ứng tiền nhập viện cho thằng bé.

     Mọi người thở phào nhẹ nhõm, ngồi quây quần bên nhau ở góc sân chia nhau húp những bát cháo từ thiện.

     Bỗng cô y tá xăm xăm đi tới nói với gã xe ôm:

   – Thằng bé cần phải tiếp máu. Nhóm máu O…

   – Trời! Gã xe ôm thốt lên! Thẫn thờ đặt bát cháo đang húp dở xuống nền gạch…Bầu không khí như chết lặng trước tình huống bất ngờ. Cô gái điếm bỗng lên tiếng:   Máu O à? Tôi nhóm máu O!…Nói xong, cô nhanh chóng theo y tá vào phòng hiến máu. Gã xe ôm cũng vội vã bước theo…

     Nửa giờ sau gã xe ôm dìu cô gái điếm ra. Trên gương mặt nhợt nhạt của cô hé nở nụ cười.

(ST)

Chuyen cam dong