Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo nhận được link này từ một Chị Bạn bên Mỹ email đến và phải click vào link đó để đọc bản tin, bằng Anh Ngữ, nên DT copy lại và dịch ra tiếng Việt để chia xẻ cùng các bạn trong và ngoài nước. Cảm ơn Chị Bạn ở Mỹ và James P. Sterba của nhà báo New York Time.

Thân mến.

DTQT. 02/11/2019. 

The ordeal of a Famed Buddhist In Ho Chi Minh City Related

By James P. Sterba; Special to The New York Times

July 14, 1979

See the article in its original context from July 14, 1979, 

     About the Archive

     This is a digitized version of an article from The Times’s print archive, before the start of online publication in 1996. To preserve these articles as they originally appeared, The Times does not alter, edit or update them.

     Occasionally the digitization process introduces transcription errors or other problems. Please send reports of such problems to archive_feedback@nytimes.com.

     TANJUNG PINANG, Indonesia, July 12 — Vietnam’s most famous Buddhist monk, Thich Tri Quang, was turned into a skeleton‐like cripple during a year and a half of solitary confinement in Ho Chi Minh City’s Chi Hoa prison, according to a leading subordinate who escaped by boat last month.

     The subordinate, Thich Thien Quang, said today in an interview here that Mr. Tri Quang, who in the 1960s led movements against the regimes of Ngo Dinh Diem and Nguyen Van Thieu, “was released from prison by the Communists in 1977 after his legs atrophied and were now confined to a wheelchair at the An Quang Pagoda. Mr. Tri Quang is now 57 years old.

     According to Mr. Thien Quang, prison conditions under the Communists made the Thieu regime’s so‐called tiger cages seem like playpens. Mr. Thien Quang, who was also jailed for two years, said Mr. Tri Quang was kept for 16 months in a coffin‐like hole in which he could not sit up. He was let out for 15 minutes a day to relieve himself and bathe.

     He and other religious leaders, Mr. Thien Quang said, were given haircuts often. The cut hair, he said, was put in glasses of water, which they were forced to drink.

Continue reading the main story

     When first approached at a refugee camp here, on Bintan Island near Singapore, Mr. Thien Quang was reluctant to talk about his escape from Vietnam or the reasons for it. At 38 years of age, he was the No 2 leader of the An Quang Pagoda in Ho Chi Minh City, formerly Saigon.

     Head shaven and dressed in black clerical garb, the earnest monk agreed to a discussion today away from other refugees and in the presence of international refugee officials.

     He said his “mission” was to, go to the United States and the United Nations to tell the world about religious persecution by the Hanoi government, which he said had provoked a number of incidents of self‐immolation by monks and nuns. He said he also wanted to let the world know about what he termed the beginning of a united religious struggle of Vietnamese Buddhists, Catholics, Protestants, Hoa Hao, and Cao Dai, as well as armed resistance groups, against the Communist rulers.

     Mr. Thien Quang said the various religious groups had formed secret communication links and were organizing disgruntled Vietnamese for an uprising in 1981. Before that, he said, various dissident groups hope to set up a clandestine radio station to help the groups organize along lines of the old Vietcong.

     Although the monk was vague about some dates, refugee officials, some with past experience in Vietnam, said his details conformed to other, less well‐placed reports from Vietnamese refugees. For example, Mr. Thien Quang, who was released from prison in 1977, said that a protest by 3,000 people was broken up by the Communist authorities in March 1978. After that, loyal Buddhists fanned out into the countryside to find and link up with various anti‐Communist groups.

Editors’ Picks

Continue reading the main story

     Dressed as a civilian, he said, he sneaked out of the pagoda and traveled to the Central Highlands, where he linked up with an armed group of “Fulro” Montagnardd guerrillas who, in the third week in April 1978, briefly occupied Cheo Reo, a Montagnard town also known by the Vietnamese name Hau Bon.

     Fighting Near Ban Me Thuot

     Mr. Thien Quang said that later fighting erupted briefly south of Ban Me Thuot, with hill tribesmen battling local Communist soldiers and then the “Yellow Star” Third Army Division. Fulro was a program carried out by the Thieu regime to organize hill tribesmen against the Vietcong.

     Asked where the anti‐Communist group got their weapons, Mr. Thien Quang said many Communist soldiers had become as corrupt as the Thieu regime soldiers they replaced and so they often sold weapons. “If you have gold, you can buy anything in Vietnam now,” he said.

     In Ho Chi Minh City, he said, underground networks now flourished because the administrators from Hanoi had alienated so many people by virtually eliminating religious freedom, confiscating property, and forcing people to go to new economic zones in rural areas. As a result, he said, groups that used to be antagonists were becoming united, often sold weapons. “If you have gold, you can buy anything in Vietnam now,” he said.

     Mr. Thien Quang said that protests against a clampdown on religious activities began in earnest in 1976 when 12 Buddhist priests and nuns burned themselves to death in mass immolation in the Mekong Delta city of Can Tho. In the last two years, he said, 18 others had committed the same act in Ho Chi Minh City alone. The latest, he said, was this March when a nun burned herself to death in front of an orphanage.

     At the An Quang Pagoda, he said, worshipers are allowed in only twice a month. Armed guards surround the pagoda. Besides Mr. Tri Quang, only three monks have been released from prison and they are not allowed out of the pagoda. Mr. Tri Quang, he said, is trying to learn to walk again using crutches.

Continue reading the main story

     In the mid-1960s, after a coup had overthrown the Diem regime, Mr. Tri Quang’s followers sought to unseat a military junta under Gen. Nguyen Cao Ky. The junta struck back, arresting many Buddhists in Hue and Saigon. Mr. Tri Quang went on a 100‐day hunger strike to protest the policies of the Saigon Government and the United States, which was then increasing its military support for South Vietnam.

     Imprisoned Several Times

     In 1967, the Buddhists put up a candidate, Truong Dinh Dzu, in the presidential elections to oppose General Thieu. Their candidate finished a strong second, but he, along with Mr. Tri Quang and several other leading anti‐Thieu South Vietnamese, was placed in “protective custody.” Mr. Tri Quang was imprisoned several times by the Thieu regime.

     Mr. Thien Quang said today that he left Ho Chi Minh City on June 3 and, after receiving help for his boat with 37 other people from a Norwegian freighter and the Singapore Navy, arrived at Bintan Island on June 15.

     Asked why the An Quang Buddhists were struggling against the Communists after causing the Thieu regime so much trouble, Mr. Thien Quang said:

     “Under Thieu, we were only protesting corruption. Now, under Communism, we cannot exist at all. Now we are fighting for life or death.”


     Theo một bản tin trên New York Times ngày 14 July 1979, sau biến cố 1975, Thượng Tọa Thích Trí Quang bị cộng sản cầm tù cầm tù một năm rưởi, đến năm 1977 mới được thả.

     Sau đây là bản dịch ra Việt Ngữ. Bản tiếng Anh ở trên có nhiều chữ đánh máy sai chính tả nên Thảo có sửa lại

  Cuộc thử thách khó khăn liên quan đến một Nhà Tu nổi tiếng, tại thành phố Hồ Chí Minh.

Bởi James P. Sterba; Đặc biệt với The New York Times

Ngày 14 tháng 7 năm 1979


     Xem bài viết trong bản chính từ ngày 14 tháng 7 năm 1979,

 Giới thiệu về lưu trữ

     Đây là bản chính của một bài viết từ trong kho lưu trữ của Times, trước khi bắt đầu đăng lên mạng năm 1996. Để bảo vệ những bài viết này khi đăng lên báo, Báo Times không thay đổi, chỉnh sửa hoặc Cập nhật chúng.

     Đôi khi quá trình biên soạn bị lỗi hoặc các vấn đề khác. Xin vui lòng gửi báo cáo của các vấn đề như vậy để archive_feedback@nytimes.com.

     TANJUNG PINANG, Indonesia, ngày 12 tháng 7- Tu Sĩ Phật giáo nổi tiếng nhất Việt Nam, Thích Trí Quang, đã trở thành một bộ xương như tê liệt trong một năm rưởi dưới sự giam giữ đơn độc tại nhà tù Chí Hòa của thành phố Hồ Chí Minh, theo lời của một Tu Sĩ phụ thuộc đã trốn thoát bằng thuyền hồi tháng trước.

     Người cộng sự, Thích Thiện Quang, cho biết hôm nay trong một cuộc phỏng vấn ở đây rằng ông Trí Quang, người trong những năm 1960 đã dẫn hành động chống lại các chế độ của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn thiệu, “đã được thả ra từ nhà tù bởi những người cộng sản trong 1977, sau khi chân ông bị suy nhược, và đến bây giờ vẫn giới hạn trong xe lăn tại chùa Ấn Quang. Ông Trí Quang bây giờ là 57 tuổi.

     Theo ông Thiện Quang, so sánh các điều kiện của nhà tù dưới chế độ cộng sản thực hiện, với chế độ Thiệu được gọi là chuồng hổ nhưng chỉ như đồ chơi của trẻ con. Ông Thiện Quang, người cũng bị bỏ tù trong hai năm, ông Trí Quang đã bị lưu giữ 16 tháng trong một cái hố như quan tài, trong đó ông không thể ngồi dậy. Ông được cho ra trong 15 phút mỗi ngày để làm thư giản bản thân và tắm.

     Ông và các nhà lãnh đạo tôn giáo khác, ông Thiện Quang cho biết, đã được đưa ra cắt tóc thường xuyên. Tóc cắt, ông nói, được đặt trong ly nước, mà họ đã buộc phải uống.

Tiếp tục đọc câu chuyện chính

     Khi lần đầu tiên tiếp cận tại một trại tị nạn ở đây, trên đảo Bintan gần Singapore, ông Thiện Quang đã miễn cưỡng nói về sự trốn thoát của mình từ Việt Nam hoặc những lý do của sự tốn thoát đó. Lúc 38 tuổi, ông là nhà lãnh đạo số 2 của chùa Ấn Quang ở thành phố Hồ Chí Minh, trước đây là Sài gòn.

     Đầu cạo trọc và mặc quần áo trong bộ áo tu màu đen, nhà sư nghiêm túc đã đồng ý một cuộc thảo luận ngày hôm nay, không có mặt những người tị nạn khác, và trong sự hiện diện của các quan chức tị nạn quốc tế.

     Ông nói “nhiệm vụ của mình” là đến, đi đến Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc để nói với thế giới về sự bức hại tôn giáo của chính phủ Hà Nội, mà ông nói đã gây ra một số sự cố tự thiêu của các nhà sư và nữ tu sĩ. Ông nói rằng ông cũng muốn để cho thế giới biết về những gì ông gọi là sự khởi đầu của một cuộc đấu tranh tôn giáo đoàn kết của các Phật tử Việt Nam, người Thiên Chúa Giáo, tin lành, Hòa Hảo, và Cao Đài, cũng như các nhóm kháng chiến vũ trang, chống lại các nhà cai trị cộng sản.

     Ông Thiện Quang cho biết các nhóm tôn giáo khác nhau đã thành lập các liên kết truyền thông bí mật và tổ chức những người Việt Nam bất mãn trong một cuộc nổi dậy vào 1981. Trước đó, ông nói, các nhóm khác nhau hy vọng sẽ thiết lập một đài phát thanh bí mật để giúp các nhóm tổ chức dọc theo dòng của Vietcong cũ.

     Mặc dù nhà sư rất mơ hồ về một số ngày, viên chức tị nạn, một số có kinh nghiệm trong quá khứ tại Việt Nam, cho biết các chi tiết của ông phù hợp với các báo cáo khác, ít được đặt ra từ những người tị nạn Việt Nam. Ví dụ, ông Thiện Quang, người đã được thả ra khỏi nhà tù vào năm 1977, nói rằng một cuộc biểu tình của 3.000 người dân đã bị các nhà chức trách cộng sản chia tay vào tháng ba 1978. Sau đó, các Phật tử trung thành đã đi vào vùng nông thôn để tìm kiếm và liên kết với các nhóm chống cộng sản khác nhau.

Biên tập viên ‘ Picks

Tiếp tục đọc câu chuyện chính

     Mặc quần áo như một người dân, ông nói, ông lẻn ra khỏi chùa và đi đến Cao Nguyên miền trung, nơi ông đã liên kết với một nhóm vũ trang của “FULRO” du kích người, trong tuần thứ ba trong tháng tư 1978, chiếm đóng một thời gian ngắn ở Cheo Reo, một thị trấn miền núi, người Việt Nam gọi nơi đó là Hau bon.

Chiến đấu gần Ban Mê Thuột

     Ông Thiện Quang nói rằng sau đó chiến đấu bùng nổ một thời gian ngắn ở phía nam của Ban Mê Thuột, với những người lính đồi núi chiến đấu với các binh sĩ cộng sản địa phương và sau đó là sư đoàn bộ binh thứ ba “sao vàng”. FULRO là một chương trình được thực hiện bởi chế độ Thiệu để tổ chức các bộ ba đồi chống lại Vietcong.

     Được hỏi tại nơi mà các nhóm chống cộng sản có vũ khí của họ, ông Thiện Quang cho biết nhiều binh sĩ cộng sản đã trở thành như tham nhũng như các binh sĩ Thiệu, chế độ họ thay thế và do đó họ thường bán vũ khí. “Nếu bạn có vàng, bạn có thể mua bất cứ thứ gì tại Việt Nam bây giờ,” ông nói.

     Tại thành phố Hồ Chí Minh, ông cho biết, mạng lưới ngầm bây giờ phát triển mạnh mẽ vì các quản trị viên từ Hà Nội đã xa lánh rất nhiều người bằng cách hầu như loại bỏ tự do tôn giáo, tịch thu tài sản, và buộc mọi người đi đến khu kinh tế mới ở các vùng nông thôn. Kết quả là, ông nói, các nhóm được sử dụng để được đối kháng đã trở thành đoàn kết.

     Ông Thiện Quang nói rằng các cuộc biểu tình chống lại một sự phản đối về các hoạt động tôn giáo bắt đầu một cách nghiêm túc trong 1976 khi 12 linh mục và nữ tu Phật giáo đã tự thiêu chết trong một sự thiêu hủy hàng loạt tại thành phố cần thơ của đồng bằng sông Cửu Long. Trong hai năm qua, ông nói, 18 người khác đã cam kết cùng một hành động tại thành phố Hồ Chí Minh. Mới nhất, ông nói, là tháng ba này khi một nữ tu bị đốt cháy mình đến chết trước mặt một trại trẻ mồ côi.

     Tại chùa Ấn Quang, ông nói, những người sùng kính chỉ được phép vào hai lần một tháng. Bảo vệ vũ trang bao quanh chùa. Bên cạnh đó ông Trí Quang, chỉ có ba nhà sư đã được thả ra khỏi nhà tù và họ không được phép đi khỏi chùa. Ông Trí Quang, ông nói, đang cố gắng học cách đi lại bằng nạng. 

Tiếp tục đọc câu chuyện chính

     Vào giữa năm 1960, sau khi một cuộc đảo chính lật đổ chế độ Diệm, những người theo ông Trí Quang đã tìm cách lật đổ một nhóm quân nhân dưới quyền tướng Nguyễn cao kỳ. Các nhóm người này tấn công trở lại, bắt giữ nhiều Phật tử tại Huế và Sài Gòn. Ông Trí Quang đã có một cuộc tuyệt thực 100 ngày để phản đối các chính sách của chính phủ Sài Gòn và Hoa Kỳ, sau đó tăng cường hỗ trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam.

Bị cầm tù nhiều lần

     Năm 1967, các Phật tử đưa ra một ứng cử viên, Trương Đình Dzu, trong cuộc bầu cử Tổng Thống để chống lại tướng Thiệu. Ứng viên của họ đã hoàn thành một liên danh thứ hai mạnh mẽ, nhưng ông, cùng với ông Trí Quang và một số người khác theo ông chống ông Thiệu ở Nam Việt Nam, đã được đặt trong “tình trạng giam lỏng.” Ông Trí Quang bị chế độ Thiệu giam nhiều lần.

     Ông Thiện Quang cho biết hôm nay rằng ông rời thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 3 tháng 6 và sau khi nhận được sự giúp đỡ cho chiếc thuyền của mình với 37 người khác từ một tàu chở hàng Na Uy và Hải quân Singapore, đã đến đảo Bintan vào ngày 15 tháng 6.

     Được hỏi tại sao các Phật tử Ấn Quang đã đấu tranh chống lại những người cộng sản sau khi gây ra cho chế độ Thiệu rất nhiều rắc rối, ông Thiện Quang cho biết:

     “Dưới thời Ông Thiệu, chúng tôi chỉ phản đối tham nhũng. Bây giờ, dưới chủ nghĩa cộng sản, chúng ta không thể tồn tại được. Bây giờ chúng ta đang chiến đấu cho cuộc sống hoặc là chết. ”

DTQT, dịch 03/12/2019.

112118340_360W.png New York Time

TOÀN LÁO CẢ (BS Đỗ Hồng Ngọc)

 Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo xin phép Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc và Chị Bạn bên Mỹ cho Dã-Thảo reblog file này, post lên trang nhà. Đây là bài viết của Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói đến “Thời Đại Nói Láo tại Việt Nam”. Bài viết quá đúng với hiện tại trên quê hương Việt Nam của chúng ta. Mời Các Bạn cùng đọc, nhận xét, rồi thử hỏi: “Biết đến bao giờ mới hết Láo đây?. Cảm ơn Bác Sĩ đã lên tiếng để trên dưới đều nghe.

Thân mến,

DTQT. 01/12/2019. 


Toàn Láo Cả!  

     Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?

     Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.

     Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.

     Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.

     Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh….. Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.

     Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.

     Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo.

     Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả… Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.

     Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh… Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.

     Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu.

Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển…tất cả đều rặt láo.

Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm.

Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả.

     Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.

     Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn… Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.

     Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ… Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.

     Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..

     Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.

     Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồ tổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…

     Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..

     Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám G. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.

     Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.

     Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.

     Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.

     Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!

BS Đỗ H. Ngọc  tp/hcm 

image062Trẻ em lượm rác kiếm ăn.


Cùng Bạn Đọc, 

Sáng nay thức dậy, nhận bài thơ này,

Của một người Bạn, ở mãi Saint Paul,

Gởi qua cho đọc, “Tiếng Việt Tuyệt Vời”

Thơ từ một người “Thi Sĩ Ẩn Danh”

Nhưng nhà nghiên cứu Dân Tộc Việt Học,

Ông Đinh Trọng Hiếu sưu tầm bài thơ,

Bài thơ tuyệt vời, tác giả “Không Tên”.

Mời Bạn cùng đọc, cảm ơn Trọng Hiếu.

Thân mến,

DTQT, 28/11/2019

Bài Thơ Tiếng Việt Độc Đáo, Tuyệt Vời. 

     Nhà nghiên cứu Dân tộc học và Việt học Đinh Trọng Hiếu từ Paris vừa gửi một bài thơ sưu tầm được. Không biết tác giả bài thơ là ai nhưng phải bái phục …

                                                           TIẾNG VIỆT TUYỆT VỜI

1-  Bài thơ gốc.

 Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời

Thú vui thơ rượu chén đầy vơi

Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc

Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi.

Qua lại khách chờ sông lặng sóng

Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người

Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng

Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.


2-  Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:

 Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha

Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa

Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược

Sóng lặng sông chờ khách lại qua

Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá

Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa

Vơi đầy chén rượu thơ vui thú

Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.


 3-  Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,

(ta được bài ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

 Cảnh xuân ánh sáng ngời

Thơ rượu chén đầy vơi

Giậu trúc cành xanh biếc

Hương xuân sắc thắm tươi

Khách chờ sông lặng sóng

Thuyền đợi bến đông người

Tiếng hát đàn trầm bổng

Bóng ai mắt mỉm cười.


4-  Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,

đọc ngược từ dưới lên, ta được bài

(ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Mắt ai bóng thướt tha

Ðàn hát tiếng ngân xa

Bến đợi thuyền xuôi ngược

Sông chờ khách lại qua

Sắc xuân hương quyện lá

Cành trúc giậu cài hoa

Chén rượu thơ vui thú

Ánh xuân cảnh mến ta.


5-  Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,

(ta được bài tám câu x bốn chữ)

 Ta mến cảnh xuân

Thú vui thơ rượu

Hoa cài giậu trúc

Lá quyện hương xuân

Qua lại khách chờ

Ngược xuôi thuyền đợi

Xa ngân tiếng hát

Tha thướt bóng ai.


 6-  Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,

(đọc ngược từ dưới lên, ta được bài tám câu x bốn chữ).

 Cười mỉm mắt ai

Bổng trầm đàn hát

Người đông bến đợi

Sóng lặng sông chờ

Tươi thắm sắc xuân

Biếc xanh cành trúc

Vơi đầy chén rượu

Ngời sáng ánh xuân.


7–  Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,

(ta được bài tám câu x ba chữ).

 Ánh sáng ngời

Chén đầy vơi

Cành xanh biếc

Sắc thắm tươi

Sông lặng sóng

Bến đông người

Ðàn trầm bổng

Mắt mỉm cười.


8-  Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,

(đọc ngược từ dưới lên, ta được bài tám câu x ba chữ).


Bóng thướt tha

Tiếng ngân xa

Thuyền xuôi ngược

Khách lại qua

Hương quyện lá

Giậu cài hoa

Thơ vui thú

Cảnh mến ta./.


Nhà Nghiên Cứu Đinh Trọng Hiếu sưu tầm.

canh dep

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 21)

Cùng Bạn Đọc,

     Thành thật cảm ơn Các Bạn đã khuyến khích, vào thăm website dathaoqutrn rất nhiều trong những post vừa qua. Không có gì vui bằng khi bài viết của mình có nhiều người đón đọc, đó là phần thưởng quí giá nhất của người cầm viết. Mời Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi” (Tiếp Theo 21).

Thân mến,

DTQT. 20/11/2019

     Cũng thứ bảy ngày 28/08/1998, lúc sáng sớm, tôi cùng Kiến và Dung (con Cậu Mười) đã rủ nhau đi biển, chúng tôi đến bãi biển Cửa Đại lúc 5:00 giờ sáng. Trời chưa sáng tỏ mà đã có các cô, các bà, các cậu, với những thúng những mẹt, đứng chờ đợi ghe đánh cá vào sớm, mua cá tươi lên chợ Hội An để bán. Ngoài khơi vẫn chưa sáng, chỉ thấy vài ánh đèn nho nhỏ ở ngoài xa, nhưng ai cũng đợi, ai cũng chờ, vì ai cũng biết sẽ có thuyền vào.

Scan0296 (7)      Thuyền cá vừa ghé bờ mọi ngươi vui vẻ, tôi thấy nụ cười của người đánh cá trên thuyền vừa ở ngoài khơi vào. Tôi cũng cảm thấy vui nên bấm máy nhiều lần.

Scan0287 (6)      Người đánh cá không ngần ngại cúi xuống lấy một con cá lớn hơn bàn tay, còn tươi rói, đưa lên, với nụ cười thật tươi không tỏ vẻ gì mệt nhọc sau một đêm làm việc ngoài khơi, cho tôi chụp hình. Cả hai cùng nhìn tôi cười, tôi thấy quý mến họ, làm việc cực nhọc thức khuya dậy sớm, chân không giày dép vậy mà vẫn vui tươi.

Scan0294 (6)     Tôi không bỏ lỡ cơ hội để thu lấy hình ảnh bình minh trên bãi biển cửa đại, cảnh mặt trời mọc từ từ ở tận chân trời xa. Tôi có được bốn tấm hình sáng hôm đó: “Mặt Trời đang mọc, sau mỗi một tích tắt của thời gian”.

Scan0297 (6)Scan0298 (6)Scan0300 (6)Scan0301 (6)Scan0286 (6)Scan0285 (7)     Chị đến trước mua được cá sớm, không ngần ngại đặt cá xuống nền cát, cho người đến sau mua ngay tại chỗ. Tôi và Dung cũng sà xuống, thấy Kiến bấm máy tôi há miệng kêu “á” nhưng em đã bấm rồi. Vậy là tôi có một tấm hình vui, Dung cười tôi hả miệng!

Scan0275 (8)Trời dần dần sángScan0283 (7)Scan0284 (7)Đã có người tắm biển rồiScan0002 (5)             “Em Kiến và Dung tắm xong rồi đó, sửa soạn về nhà, trưa rồi Chị Quế ơi!”                 (mới có 7:30 Am)Scan0284 (5).jpgScan0287 (5)Dì Năm đứng giữa vườn bắp và vườn khoai.Scan0285 (5)Đây là vườn chuối, luống trống là vườn bắp, mới đốn xong còn đất trống.Scan0286 (5)Vườn cau thật đẹp.Scan0309 (5)Dung đang làm trong vườn cau, sau ngày đi biển về.Scan0333 (2)Từ ngoài ngõ đi vào nhà Ông Bà Ngoại.Scan0334 (2)Nguyên nhà Ông Bà Ngoại, nhìn từ phía ngoài vào. Tôi trú ngụ ở đây suốt thời gian về thăm. Scan0332 (2)Dì Năm đang xem hình gia đình tôi, mang từ Úc về.

     Vườn nhà ông Ngoại rất rộng, nếu tôi nhớ không lầm thì trên hai mươi ngàn mét vuông (20,000m2), từ trong nhà ra đến tận bờ sông. Cả gia đình sống nhờ vào sự trồng trọt, lúa, ngô, khoai sắn, cau trầu và rau xanh cùng trái cây đầy trong vườn, thật không thiếu thứ nào cả, bên cạnh đó còn có chăn nuôi gà vịt, có trâu bò để cày ruộng. Nhìn khu đất thật đẹp săn sóc ngăn nắp gọn gàng thấy thương làm sao! Vậy mà bây giờ không còn nữa, cộng sản tịch thu hơn nửa đất rồi đền bù chút đỉnh không đủ vào đâu hết. Nghe nói trước mặt nhà Ông Ngoại nay “họ” xây một khách sạn lớn lắm, em tôi dùng chữ “to đùng” để diễn tả cái lớn của khách sạn. Vậy là ruộng lúa, vườn bắp, vườn cau, vườn trầu, xoài, mít, chuối  v…v…đều không còn nữa. Chẳng biết bây giờ ở đó ra sao?

     Chiều ngày 30/08/1998, Anh Tỏa chở con đến thăm, Anh Hai Lân, con trai lớn của người Chị, dưỡng nữ của Ba Me, cũng đến thăm. Hồng con gái lớn của Dung ra vườn chặt bắp để trơ trái trên cành, sáng mai ra hái trái nấu, phần ăn, phần đem ra chợ bán vì nhiều quá!

     Hôm nay 31/08/1998 phải ra phường đăng ký để được ở lại nhà Cậu Mợ trong thời gian ở lại Việt Nam.

     Mới sáng, mặt trời chưa ló dạng, Dung và con gái lớn, Hồng, đã hái xong bắp đem vào đổ đầy một góc trước sân nhà. Hai cha con đang cắt bắp cho sạch gọn để bỏ vào thùng nấu chín nhìn thấy cho ngon. Lúc nhà đang nấu bắp, vui ơi là vui. Lúc bắp chín, giở nắp vung ra, bốc hơi nghi ngút, nóng lắm, không dám đến gần. Bắp nguội vừa ăn, Dì Năm đưa một trái, khi cắn trái bắp, phải nói:

“Trái bắp trong vườn sao ngọt quá,

Ăn vào nghe thấm tận buồng tim,

Ngày mai rời xứ ra đi nữa,

Biết đến bao giờ được đứng im, 

Để nhìn mẫu đất nhà Ông Ngoại,

Nuôi sống bao nhiêu Tuối Ngọc Chìm!

Scan0283 (8)Scan0275 (9).jpgNhà Ông Ngoại phía trước có bốn cửa ra vào thật rộng.Scan0002 (6)Scan0316 (3)Dì Năm vịn buồng chuối (làm người mẫu), cho tôi chụp hình.Scan0315 (4)

Còn tiếp,

DTQT, 27/11/2019.

     Xin Các Bạn cho Dã-Thảo dừng lại ở đây. Hẹn gặp lại trong phần tiếp theo.

Thân mến, DTQT.


Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo vừa nhận được file này của một người Bạn ở bên Mỹ gởi qua email, DT vừa xem vừa reblog lên cho tất cả các Bạn trong và ngoài nước cùng thấy dân VN chúng ta trong nước bây giờ phản ứng ra sao đối với xhcn. Mời các Bạn cùng xem và nhận xét tình hình VN bây giờ ra sao.

Thân mến,

DTQT 14/11/2019.

Tham trang Ha Noi 9


Cùng các Bạn Phật Giáo,

     Qua trang blog của Trần Thị Nguyệt Mai, Dã-Thảo vừa đọc tin Trưởng Lão Hòa Thượng Thích-Trí-Quang đã viên tịch tại Chùa Từ Đàm Huế, lúc 9 giờ 45 phút tối, ngày 08/11/2019, nhằm ngày 12/10/ năm Kỷ Hợi, hưởng thọ 97 tuổi. Xin phép Nguyệt Mai cho Dã-Thảo reblog file này gởi đến các Bạn trong và ngoài nước của DT. Thành thật cảm ơn Nguyệt Mai. 

     Nguyện Đem Lòng Thành Kính Cầu Xin Đức Từ-Bi Tiếp-Độ.
Nam-Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới Đại-Từ Đại-Bi Tiếp-Dẫn Đạo-Sư A-Di-Đà Phật.
Nam-Mô A-Di-Đà Phật.
Nam-Mô Quán-Thế-Ấm Bồ-Tát.
Nam-Mô Đại-Thế-Chí Bồ Tát.
Nam-Mô Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát.
Nam-Mô Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ-Tát.

Con kính xin cầu nguyện cho Trưởng-Lão Hòa-Thượng Thích-Trí-Quang sớm về cõi Phật. Nam-Mô A-Di-Đà Phật.

Thành Kính Phân Ưu.

DTQT. 09/11/2019.
Sydney Australia.

Trần Thị Nguyệt Mai

HT Thích Tri Quang

Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang, bậc cao tăng thạc đức của Phật Giáo Việt Nam thời hiện đại, một trong những nhà lãnh đạo khai sáng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào đầu năm 1964, cũng là nhà phiên dịch và trước tác về Kinh, Luật, Luận và nhiều thể tài Phật Giáo, đã viên tịch tại Chùa Từ Đàm, thành phố Huế, vào lúc 9 giờ 45 phút tối ngày 8 tháng 11 năm 2019 (nhằm ngày 12 tháng 10 năm Kỷ Hợi), thọ thế 97 năm, theo Thông Báo của Hòa Thượng Thích Hải Ấn, Trú Trì Chùa Từ Đàm, Huế, cho biết vào sáng Thứ Sáu, ngày 8 tháng 11 năm 2019.
Được biết Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang đã về an trú tại Chùa Từ Đàm, Huế, mấy năm qua. Trước đó Hòa Thượng Thích Trí Quang từ Chùa…

View original post 2,121 more words


Cùng Bạn Đọc,

     Sáng nay Dã-Thảo lên net đọc Sky News (10:00 giờ trước đây) thấy có Danh sách của 39 người chết đông lạnh trong lorry trailer (tin do Alixculberton, a news reporter). Nên DT copy, reblog  đưa lên Trang nhà để các Bạn trong nước xem, có ai là thân nhân hay bạn của mình không. DT thành thật chia buồn cùng tất cả những ai là Cha Mẹ Anh Chị Em của những nạn nhân xấu số. Có bản dịch ra tiếng Việt ở dưới, mời Bạn kéo xuống đọc. Chúc các Bạn một ngày an lành.

Thân mến,

DTQT. 09/11/2019.

     Ten teenagers were among the 39 people found dead in a refrigerated trailer in Essex last month, police have confirmed.

Pham Thi Tra My  © Reuters Pham Thi Tra My, 26, was one of eight women in the trailer.

     Essex Police on Friday released the names of the 31 men and eight women whose bodies were found in an industrial park in Grays on 23 October, after confirming on Thursday they were all Vietnamese nationals.

15 Tuoi©Reuter Anna Bui Thi Nhung, 19, was among 10 teenagers in the lorry trailer 

     The youngest two were just 15-years-old and the oldest was 44-years-old.

     DNA from families who believed their relatives were victims was used to identify many of them.

    Assistant Chief Constable Tim Smith said: “This was an incredibly important process and our team has been working hard to bring answers to worried families who fear their loved one may be among those whose tragic journey ended on our shores.Vo Van Nhu 19© Other Vo Nhan Du, 19, is a victim.

     “Our priority has been to identify the victims, to preserve the dignity of those who have died and to support the victims’ friends and families.

     “It remained of paramount importance to us to ensure that an individual’s next of kin were informed and that they were given some time to absorb this tragic news before we publicly confirmed their loved one’s identity.

AAJegAj.jpg Trailer lorry

     © PA The victims were found in the trailer of this lorry

     “We have worked closely with the National Crime Agency, the Foreign and Commonwealth Office, and the Vietnamese Authorities to identify and locate their families.”

     The driver of the lorry, Maurice Robinson, 25, of Craigavon, Northern Ireland, has been charged with 39 counts of manslaughter, conspiracy to traffic people, and money laundering.

     The trailer had come from Zeebrugge in Belgium but the 39 victims’ routes from Vietnam have not yet been revealed.

The victims are:

Pham Thi Tra My, a 26-year-old woman from Ha Tinh

Nguyen Dinh Lurong, a 20-year-old man from Ha Tinh

Nguyen Huy Phong, a 35-year-old man from Ha Tinh

Vo Nhan Du, a 19-year-old man from Ha Tinh

Tran Manh Hung, a 37-year-old man from Ha Tinh

Tran Khanh Tho, an 18-year-old man from Ha Tinh

Vo Van Linh, a 25-year-old man from Ha Tinh

Nguyen Van Nhan, a 33-year-old man from Ha Tinh

Bui Phan Thang, a 37-year-old man from Ha Tinh

Nguyen Huy Hung, a 15-year-old boy from Ha Tinh

Tran Thi Tho, a 21-year-old woman from Nghe An

Bui Thi Nhung, a 19-year-old woman from Nghe An

Vo Ngoc Nam, a 28-year-old man from Nghe An

Nguyen Dinh Tu, a 26-year-old man from Nghe An

Le Van Ha, a 30-year-old man from Nghe An

Tran Thi Ngoc, a 19-year-old woman from Nghe An

Nguyen Van Hung, a 33-year-old man from Nghe An

Hoang Van Tiep, an 18-year-old man from Nghe An

Cao Tien Dung, a 37-year-old man from Nghe An

Cao Huy Thanh, a 33-year-old man from Nghe An

Tran Thi Mai Nhung, an 18-year-old woman from Nghe An

Nguyen Minh Quang, a 20-year-old man from Nghe An

Le Trong Thanh, a 44-year-old man from Dien Chau

Pham Thi Ngoc Oanh, a 28-year-old woman from Nghe An

Hoang Van Hoi, a 24-year-old man from Nghe An

Nguyen Tho Tuan, a 25-year-old man from Nghe An

Dang Huu Tuyen, a 22-year-old man from Nghe An

Nguyen Trong Thai, a 26-year-old man from Nghe An

Nguyen Van Hiep, a 24-year-old man from Nghe An

Nguyen Thi Van, a 35-year-old woman from Nghe An

Tran Hai Loc, a 35-year-old man from Nghe An

Duong Minh Tuan, a 27-year-old man from Quang Binh

Nguyen Ngoc Ha, a 32-year-old man from Quang Binh

Nguyen Tien Dung, a 33-year-old man from Quang, Binh

Phan Thi Thanh, a 41-year-old woman from Hai Phong

Nguyen Ba Vu Hung, a 34-year-old man from Thua Tien Hue

Dinh Dinh Thai Quyen, an 18-year-old man from Hai Phong

Tran Ngoc Hieu, a 17-year-old boy from Hai Duong

Dinh Dinh Binh, a 15-year-old boy from Hai Phong

     Ten thanh thiếu niên là một trong những 39 người tìm thấy chết trong một trailer lạnh ở Essex cuối tháng, cảnh sát đã xác nhận.

Pham Thi Tra My© Reuters Pham Thi Tra My, 26, was one of eight women in the trailer

     Essex cảnh sát vào ngày thứ sáu phát hành tên của 31 người đàn ông và tám phụ nữ có cơ quan được tìm thấy trong một khu công nghiệp ở Grays ngày 23 tháng mười, sau khi xác nhận vào ngày thứ năm họ đã được tất cả các công dân Việt Nam.

     The youngest two were just 15-years-old and the oldest was 44-years-old.15 Tuoi© Reuters    Anna Bui Thi Nhung, 19, was among 10 teenagers in the lorry trailer.

     DNA từ những gia đình tin rằng họ hàng của họ là nạn nhân đã được sử dụng để xác định nhiều người trong số họ.

     Assistant Chief Constable Tim Smith said: “This was an incredibly important process and our team has been working hard to bring answers to worried families who fear their loved one may be among those whose tragic journey ended on our shores.Vo Van Nhu 19

© Other Vo Nhan Du, 19, is a victim

     “Ưu tiên của chúng tôi đã được xác định các nạn nhân, để bảo vệ nhân phẩm của những người đã chết và hỗ trợ bạn bè và gia đình của nạn nhân.

     “Nó vẫn còn quan trọng nhất để chúng tôi đảm bảo rằng một cá nhân tiếp theo của thân nhân đã được thông báo, và rằng họ đã được đưa ra một thời gian để hấp thụ tin tức bi thảm này trước khi chúng tôi công khai xác nhận danh tính của họ.  © PA The victims were found in the trailer of this lorry.

AAJegAj.jpg Trailer lorry     “Chúng tôi đã làm việc chặt chẽ với cơ quan tội phạm quốc gia, văn phòng nước ngoài và khối thịnh vượng chung, và chính quyền Việt Nam để xác định và xác định vị trí gia đình của họ.”

     Các trình điều khiển của xe tải, Maurice Robinson, 25, của Craigavon, Bắc Ireland, đã bị tính phí với 39 đếm ngộ sát, âm mưu cho người dân giao thông, và rửa tiền.

     Đoạn trailer đã đến từ Zeebrugge ở Bỉ nhưng các tuyến đường 39 nạn nhân từ Việt Nam vẫn chưa được tiết lộ.

Các nạn nhân là:

1- Phạm thị Trà My, phụ nữ 26 tuổi đến từ Hà tĩnh

2- Nguyễn đình Lurong, người đàn ông 20 tuổi đến từ Hà tĩnh

3- Nguyễn Huy phong, người đàn ông 35 tuổi đến từ Hà tĩnh

4- Võ Nhan du, người 19 tuổi đến từ Hà tĩnh

5- Trần mạnh hùng, người đàn ông 37 tuổi đến từ Hà tĩnh

6- Trần Khánh thọ, người 18 tuổi đến từ Hà tĩnh

7- Võ Văn Linh, người 25 tuổi đến từ Hà tĩnh

8- Nguyen Van Nhan, người đàn ông 33 tuổi đến từ Hà tĩnh

9 – Bùi Phan thắng, người đàn ông 37 tuổi đến từ Hà tĩnh

10- Nguyễn Huy hùng, cậu bé 15 tuổi đến từ Hà tĩnh

11- Trần thị thọ, phụ nữ 21 tuổi từ nghệ an

12- Bùi Thị Nhung, phụ nữ 19 tuổi của nghệ an

13- Võ Ngọc Nam, người 28 tuổi đến từ nghệ an

14- Nguyễn đình tú, người 26 tuổi đến từ nghệ an

15- Lê văn Hà, người đàn ông 30 tuổi đến từ nghệ an

16- Trần Thị Ngọc, phụ nữ 19 tuổi từ nghệ an

17- Nguyễn Văn hùng, người đàn ông 33 tuổi đến từ nghệ an

18- Hoàng Văn Tiep, người 18 tuổi đến từ nghệ an

19- Cao tiến dũng, người đàn ông 37 tuổi đến từ nghệ an

20- Cao huy thành, người đàn ông 33 tuổi đến từ nghệ an

21- Trần Thị Mai nhung, phụ nữ 18 tuổi đến từ nghệ an

22- Nguyễn minh quang, người đàn ông 20 tuổi đến từ nghệ an

23- Lê trọng thành, người đàn ông 44 tuổi từ diễn Châu

24- Phạm thị Ngọc Oanh, phụ nữ 28 tuổi đến từ nghệ an

25- Hoàng văn hội, người 24 tuổi đến từ nghệ an

26- Nguyễn thọ Tuấn, người 25 tuổi đến từ nghệ an

27- Đặng hữu Tuyền, người 22 tuổi đến từ nghệ an

28- Nguyễn trọng Thái, người 26 tuổi đến từ nghệ an

29- Nguyễn Văn hiệp, người 24 tuổi đến từ nghệ an

30- Nguyễn thị Vân, phụ nữ 35 tuổi của nghệ an

31- Trần Hải Lộc, người đàn ông 35 tuổi đến từ nghệ an

32- Dương Minh Tuấn, 27 tuổi, đàn ông từ Quảng Bình

33- Nguyễn Ngọc Hà, người đàn ông 32 tuổi từ Quảng Bình

34- Nguyễn Tiến Dũng, người đàn ông 33 tuổi từ quảng, bình

35- Phan thị thanh, người phụ nữ 41 tuổi đến từ Hải Phòng

36- Nguyễn Bá vũ hùng, người đàn ông 34 tuổi từ thừa tiến Huế

37- Đinh đình Thái quyên, người 18 tuổi đến từ Hải Phòng

38- Trần Ngọc hiếu, cậu bé 17 tuổi đến từ Hải Dương

39- Đình đình bình, cậu bé 15 tuổi đến từ Hải Phòng.Rose trắng

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 20)

Cùng Bạn Đọc,

     Trong phần này Dã-Thảo sẽ đưa những tấm hình về Việt Nam năm 1998. Bây giờ nhìn lại những tấm hình này DT vẫn thấy lòng xúc động rất nhiều vì có những hình ảnh mà người trong hình đã ra đi và Thảo không thể nào gặp lại được nữa. Vì thế cho nên mãi đến bây giờ Thảo vẫn cứ buồn, mỗi buổi sáng thức dậy là nỗi buồn lại bao quấn lấy người, nên nước mắt cứ tự nhiên chảy không cần phải có ai hỏi câu nào, như bây giờ vừa viết và nước mắt cứ rơi.

     Mời các Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi” 20.

Thân mến,

DTQT. 15/10/2019 

     Tôi book vé máy bay về Việt Nam vào ngày 21/08/1998. Ông Bạn già kéo tôi vào một tiệm sang ảnh và bán máy hình, ngày 19/08/1998, mua cho tôi một máy hình, giá là $465.00 nhưng tôi được bớt $90.00 tiền thuế, nhờ có vé máy bay đi du lịch, nên chỉ trả $375.00. Đem về nhà ông dặn tới dặn lui, chỉ tôi cách xử dụng máy vì sợ tôi không biết dùng. Mà thật, tôi không biết xử dụng nên phải đọc trang giấy kèm theo, chứ nghe ông nói, vào tai này ra tai kia, bay lên ngọn cây hết, có nhớ gì đâu.

Scan0300 (3)Wally, hình đầu tiên trong máy mới.Scan0301 (3)Scan0302 (3)Đi mua máy hình, hiệu Olympus.

    Ông Bạn đưa tôi ra phi trường Sydney, ông không quên chụp cho tôi một tấm hình trong máy hình mới (mua hôm 19/08/1998), lúc tôi sắp hàng để vào phòng trong, sửa soạn lên máy bay. Tấm hình này, chỉnh đúng ngày 21/08/1998. 

Scan0303 (2)Scan0275 (5)Scan0002 (3)      Phi Trường Sydney ngày 21/08/1998. Tôi đứng cạnh một cửa hàng bán đồ lưu niệm tại phi trường để ông chụp hình tôi bằng máy của ông, cả mấy tấm hình đều bị chỉnh ghi sai ngày (20/08/1998). Khi về lại Úc tôi mới thấy, ông còn ngồi nán lại trên phòng tầng trên của phi trường để thấy máy bay, có tôi trong đó, cất cánh và chụp thêm hai tấm, chiếc phi cơ đang bay lên từ phi trường Sydney.

Scan0283 (4)       Hai tấm hình này Wally dùng máy của ông để chụp, máy bị chỉnh sai ngày mà ông không lưu ý. Khi nhìn thấy hai tấm hình này tôi vô cùng cảm động vì thấy ông thật lòng quý mến tôi. Tấm hình phía dưới đẹp nên tôi rất thíck, trên không trung chỉ có đơn độc chiếc máy bay, có tôi, giữa bầu trời xanh và mây trắng lang thang.

Scan0284 (4)Scan0304 (3)     Tôi theo đoàn người lên máy bay, vào chỗ ngồi, xong tôi lấy máy hình ra xin phép hai cô chiêu đãi viên hàng không và hành khách gần đấy cho tôi chụp vài tấm hình làm kỷ niệm, ai cũng vui vẻ tươi cười chứ không tỏ vẻ bị làm phiền, tôi cũng không quên cảm ơn họ. Tôi mua vé của hãng Air Qantas, nhưng không hiểu sao tôi được đưa qua hãng bay Air Việt Nam. Hành khách trên máy bay hầu hết là người Việt về thăm quê nên trông ai cũng vui cười hớn hở, như chính lòng tôi lúc bấy giờ. Tôi nôn nao vô cùng vì mong được gặp em Kiến. Em không còn ở chung với gia đình và đã dọn ra ở riêng nên tôi không liên lạc được với em. Tôi không báo cho Kiến biết là tôi về hôm nay để Kiến ngạc nhiên cho vui. Vợ chồng con gái tôi đã nhờ người chị nuôi đón tôi ở sân bay để đưa về nhà chị, nên tôi không lo lắng mấy.

     Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 5:00Pm ngày 21/08/1998. Sau khi qua biết bao nhiêu thủ tục xét hỏi, tôi lấy được hành lý và ra ngoài. Vì chưa biết nhau, Chị Nga đưa tấm bảng có tên tôi, đón tôi tại phi trường. Tôi mừng rỡ ôm Chị và thành thật cảm ơn Chị nhiều. Chị đưa tôi về nhà Chị bằng taxi. Đến nhà lúc 6:20’Pm, nhà rất khang trang, trang trí giống như một khách sạn nhỏ. Chị cũng có dụng ý dùng căn nhà để đón người thân từ ngoại quốc về ở, thay vì ở khách sạn lớn. Dưới đây là hình căn phòng tôi trọ ở nhà Chị Nga, sạch sẽ, không trang hoàng lôi thôi, cho tôi một cảm giác dễ chịu.

Scan0307 (3)Căn phòng trọ ở nhà Chị Nga.

Scan0330 (2)Đến thăm Mẹ và Chị của Chị Sui, Chị Bảy, (Dì của Ẩn, chồng con gái tôi).Scan0312 (3)Chị Bảy (bên trái) Mẹ, cùng con gái. Chị Nga ngồi bên phải.

    Ngày hôm sau, 22/08/1998 nhờ Nga đưa đi thăm Mẹ của Chị sui (Bà Ngoại con rễ tôi). Nhân tiện Chị Nga nhờ Anh Mười, em Chị sui, đưa đi tìm Kiến. Gặp Kiến ở 18C – 501 ở Chung cư HVC Q.Tân Bình. Cảm ơn Anh Mười và Chị Nga nhiều. Nhờ Anh Mười có xe gắn máy nên không khổ vì chuyện đi lại. Gặp Kiến thật vô cùng mừng rỡ, hai chị em ôm nhau mừng mừng, tủi tủi.

   – “Chị về sao không báo cho em biết”, Kiến nói.

   – “Vậy mới vui chứ!” Tôi nói. 

     Vì Kiến ở trọ nhà người quen nên hơi bất tiện, mấy chị em kéo nhau về nhà Anh Mười nói chuyện.

   – “Vợ con Kiến bây giờ ở đâu?” Tôi hỏi.

  – “Dạ, Các cháu và H. ở bên nhà Bà Ngoại, Kiến nói. Em có nhiều chuyện buồn lắm. Bây giờ có Chị đây em vui cái đã. Còn vấn đề vợ con của em được gác qua một bên, từ từ Chị sẽ rõ”.

   – “Chị xin lỗi mấy tháng nay chị không liên lạc với em vì sao thì em biết rồi chị không nhắc lại, chuyện gia đình em chị không dám lạm bàn. Chị muốn về Hội An thăm bà con, em đưa chị về được không?

   – “Sao không? Chị về thăm, Chị đi đâu em đi đó.

     Vậy là hai chị em rời nhà Anh Mười, lo đi mua vé máy bay, Air VN, về Đà Nẵng. Ngày 23/08/1998 Kiến đưa đi thăm vợ chồng con gái Chị Mai, Ly Lương nhà ở số  141/A/48t Âu Dương Lân P2 Q8 Sài Gòn. Thật vui khi gặp các cháu.

Scan0303 (3)Từ trái qua, Ly, Lương, Quế, Kiến, bé gái con của Ly Lương ngồi ở trước.

     Đi ăn trưa với Kiến ở nhà hàng. Buổi chiều đến thăm Tuấn gặp Anh Tân, con Chị Phán Trì, chị ruột của Bà Chị Dâu đầu, vợ Anh Hai, Bà Chị Dâu tôi uống hết lọ dầu nóng, lúc Anh Hai còn ở tù cải tạo, không cứu được. Nhắc lại, em nghe đau lòng Chị Hai ơi!…Anh Tân trông lạ quá nhìn không ra. Buổi tối đi ăn với Ly Lương và Kiến. Tối tính tiền trả Chị Nga vì chiều mai là đi Đà Nẵng rồi.

     Ngày 24/08/1998, buổi sáng đi chợ với Chị Nga thật là vui, Nga dễ thương thiệt. Ra phi trường buổi chiều, thấy chiếc máy bay nhỏ quá, cảm thấy lo sợ! Cũng phải leo lên mà đi chớ! Nhưng rồi cũng qua. Đến Đà Nẵng an toàn. Về nhà Nhuận Rơ lúc 6:30’Pm. Nghe mệt nhưng thấy lòng nôn nao thật nhiều.

Scan0317 (2)Nhuận ở đâu mà thấy có một mình Anh Rơ đứng trong bếp vậy Nhuận?

     Ngày 25/08/1998, Kiến thuê taxi 200.000 đồng về Hội An. Đến đón Dì Năm cùng về Hội An, vào ở nhà Ông Bà Ngoại. Đi thăm Anh Hai, thăm Anh Ba, thăm Chị Bốn. Đi chợ Hội An mua trái cây về cúng ở nhà thờ. Đứng trước bàn thờ Ba Me buồn hiu… Tôi nhớ lúc còn nhỏ Ba tôi xem tướng cho tôi, nói rằng sau này tôi đi xa lắm. Tôi theo chồng vào đến Vũng Tàu, tưởng vậy là xa lắm rồi. Ba ơi, Con đâu có ngờ là con lại đi xa đến thế này và không có ngày trở lại nữa, Ba ơi! Con buồn ghê lắm. Nhớ lại những ngày con, chồng con và Duyên Nghị ở đây với Ba, Bố các cháu đóng ở tiền đồn Hội An, thường hay vắng nhà. 

Đêm đêm nghe tiếng súng nhiều,

Ba với con lòng lo lắng không yên.

Ba thương chồng con ốm yếu…

Đánh nhau thật liều, đánh nhau quá nhiều.

Ba thương chồng con ốm yếu,

Con khóc đây Ba, con khóc đây Ba.

     Vào đến Hội An là chạy lên thăm Anh Hai, thăm nhà thờ, thăm Anh Ba, thăm Chị Bốn ngay. Kiến bấm máy ghi lại tấm hình dưới đây, tôi ngồi cạnh Anh Ba. Bây giờ, ngồi gõ PC nhìn tấm hình này nhớ lại lúc tôi còn nhỏ có lần được Anh Ba chở đi chơi bằng xe đạp chạy quanh nhà đèn, mừng quá, mà không cầm được nước mắt. Anh mất rồi, không bao giờ có thể ngồi cạnh Anh như thế này nữa…

Scan0284 (3).jpg Anh Ba QQuế và Anh Ba 25/08/1998.

Anh bị tai biến mạch máu nên tay chân không bình thường.

     Ngày 27/08/1998 đi Đà Nẵng thăm các Bạn học cùng khóa ngày xưa, đang làm trong bệnh viện, gặp mặt Thanh, Bá, Trang, An. Rất vui nhưng không hàn huyên được nhiều vì các Bạn đang bận công việc. Chiều về có ghé thăm Trang, mẹ của bé Dung, đây là một em học sinh nghèo, được Wally bảo trợ để có thể tiếp tục đi học. Nhưng Trang không có mặt chỉ gặp Quang, người con trai, anh của bé Dung.

     Tôi ghé vào thăm Anh Ba. Nhân tiện thăm ngôi nhà Anh Bốn, ngôi nhà kỷ niệm cũ của tôi, vì đã có lần gia đình nhỏ của tôi trú ngụ tại đó một thời gian. Nhà Anh Ba và Anh Bốn, thật rộng ở sát vách nhau nên chúng tôi tha hồ chạy qua chạy về, vui vô cùng. Hiện được Hiệp, con trai Anh Bốn, làm thành “Điểm Tham Quang Nhà Cổ Phùng Hưng” cho khách du lịch đến viếng.

Scan0300 (5)Ba khách du lịch đang nói chuyện với cô Tiếp Dẫn Viên.Scan0301 (5)Ba khách du lịch ngồi ở hình trên, đang rời nhà.Scan0295 (5)     Tôi chụp tấm hình trước mặt nhà, (ngày 27/08/1998), để được thấy lại phía tay phải là nơi tôi thường ngủ mỗi tối với các con, Duyên Nghị Hòa. Scan0303 (4)Bên này là chỗ ngủ của gia đình tôi, bên kia là phòng khách (chỗ cô Tiếp Viên ngồi)

     Nhìn lại căn nhà xưa im vắng, bấy giờ tấp nập người ra kẻ vào lòng thấy nao nao nhớ Ba Me quá. Xong qua chào Anh Ba để về nghỉ, đi cả ngày hôm nay cũng mệt rồi. Ngày 28/08/1998 Trang và bé Dung xuống thăm. Hẹn sẽ lên thăm căn nhà của ba mẹ con Trang. Ngày hôm sau, 29/08/1998, đi thăm bà con và các bạn ở đường Phan Bội Châu, thăm gia đình Huỳnh Cần. Đến kháck sạn Hội An thăm Anh Tỏa, bà con cô cậu. Trên đường đi đến nhà Anh, tôi có chụp vài tấm hình, post theo đây mời Bạn xem. Tôi từ đường Phan Bội Châu đi lên, đến bờ sông quẹo trái lên cầu, cây cầu bắt ngang qua sông sau này chứ ngày xưa thì không có. Tôi không biết tên cây cầu, chắc tại quên không hỏi. Cuối cầu bên kia bờ sông, có căn nhà lớn trên nóc có để tấm bảng “Phố Hội An”, hàng chữ nhỏ ở dưới là: Fai-Foo Hotel.

Scan0303 (5)Scan0302 (6)Từ trên cầu nhìn xuống sông Thu Bồn. Chợ Hội An nằm bên tay phải, đi khỏi những căn nhà lầu cao là đến nơi. Scan0304 (5)Hình trên, đứng từ Khách Sạn nhìn ra cây cầu đi đến đường Phan Bội Châu. 

     Kiến và tôi ngồi ở cạnh tầng cấp lên lầu, có cái hồ nhỏ để vài khối đá trang hoàng như những hòn đảo nhỏ nhô lên khỏi mặt nước, nhưng không có con cá kiểng nào bơi lội ở trong. Nhờ Anh Tỏa (Ông Chủ Khách Sạn) chụp tấm hình dưới đây. Nhìn những hình này nhớ Kiến lắm, không ngăn được nước mắt. Em mất năm 2016 tại Việt Nam, hưởng thọ 67 tuổi. Từ ngày Kiến mất đến nay tôi không màng nhuộm tóc nữa, tóc tôi từ đó càng rụng nhiều, bạc phơ, bây giờ chỉ còn một nhúm, thấy tội nghiệp.

Scan0287 (3).jpg K Q Nha Anh ToaHai Chị Em, Quế + KiếnScan0305 (5)Em Kiến + Anh Tỏa. 

     Anh Tỏa rủ hai Chị Em tôi ra ngoài đi ăn. 

   – “Anh với Kiến muốn ăn gì thì ăn, em chỉ muốn ăn bánh tráng đập dập chấm mấm nêm thôi”. Tôi vừa cười vừa nói.

     Anh Tỏa cười hiền lành, chịu liền. 

   – “Dễ quá mà”. Anh nói.

     Món bánh tráng đập dập bữa đó thật ngon vì mấy chục năm không hề rớ tới. Từ ngày vượt biên đến ngày về lại Hội An là 23 năm có ít gì đâu. Nếu tính từ ngày xa Hội An thì còn lâu hơn nữa…

Scan0306 (5)Scan0307 (5)Anh Tỏa và Kiến ngồi ăn, cười nhìn tôi đang chụp hình hai Anh Em.

Còn tiếp.

DTQT. 31/10/2019.


Dear Friends, 

     I’m writing “My life Story 20” and, I’m so sad that why I can’t continue, I dropped there in the middle. I couldn’t control myself keep on crying, my eyes are blurring, my runny noses causing me throttled. I’m sorry, but I have a poem for you to read in the meantime so, I can control myself, and continue to write.

     Thảo đang viết “Chuyện Đời Tôi” nhưng vì buồn quá nên không thể tiếp tục, phải dừng lại nửa chừng. Thảo cứ khóc nên mắt mờ đi, nước mũi khiến mình ngột thở. Cho Thảo xin lỗi, nhưng Thảo có bài thơ mới làm, bằng Anh Ngữ, Thảo post lên mời Bạn đọc lúc này, rồi Thảo sẽ bình tỉnh lại và viết tiếp.

Thân mến,

DTQT. 18/10/2019 

“I Lost Everything In Need”

I lost my homeland to the communist.
                                                      And I lost everything in need,                                                    Including the father
For my three children,

I, myself brought them up,
In here, Australia, land of peace,
My love husband had the other,
My heart was broken into many pieces.

The first thing is a beautiful family 
The second thing is a beautiful memory,
Together they must be forever,
            Never disappear in the future.

But they are gone, and could not be coming back,

I am crying, am I?

They’re in the past, far-away from here,

Smiling or crying,

Both are the same thing.       

Dã-Thảo chuyển ngữ:

Tôi Mất Tất Cả Những Cần Thiết

Tôi mất quê hương vì cộng sản,

Tôi mất hết những gì cần thiết,

Kể cả Bố

Của các con tôi.


Tôi một mình nuôi con khôn lớn,

Ở nơi đây, nước Úc yên lành,

Người chồng yêu đã theo người khác,

Cắt tim tôi ra thành nhiều lát.


Trước hết mất một gia đình đẹp,

Điều thứ hai những kỷ niệm sâu,

Đáng lẽ ra là phải tồn tại,

Không bao giờ bị mất tương lai.


Nhưng tất cả đi, không trở lại,

Tôi đang khóc, sao tôi lại khóc?

Là quá khứ xa đây lắm rồi

Cười hay khóc cũng giống nhau thôi.

DTQT. 18/10/2019.Scan0283 (3)Ngày Trở Về Đứng Trước Bàn Thờ Ba Me ở Hội An năm 1998.