CHUYỆN QUANH TA.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo cảm ơn Anh Longkangaroo đã gởi cho DT file này. Xin phép Anh Long cho Thảo reblog để share với các Bạn. Mời Bạn đọc một chuyện tếu nho nhỏ không biết của tác giả nào viết, nhưng thấy Anh Long có “đưa” vào đọc, trước khi đọc file chính của Anh, DT đọc thấy hình như “lạ” và bật cười nên muốn các Bạn cùng cười cho vui. Đọc xong chuyện vui mời Bạn đọc tiếp một bài viết rất có giá trị của Triệu Hoài An -Tổng Thư Ký Nghiệp đoàn Báo Chí VN do Anh Longkangaroo giới thiệu.

Thân mến,

DTQT. 30/11/2018.

GIÁO DỤC XHCN -VN-Thanh tra trường cấp quận 😋

     Đoàn thanh tra do ông Phùng Xuân Nhạ Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo dẫn đầu, đến thanh tra một trường học cấp quận. Ông Nhạ chỉ vào quả địa cầu trong lớp và hỏi một học sinh:

– Hãy cho tôi biết tại sao trục quả cầu này lại nghiêng như thế? Em học sinh sợ sệt trả lời :

– Dạ không phải em làm đâu ạ!

Ông Nhạ quay sang hỏi một học sinh khác.

Em này run run nói:

– Mọi người đều thấy…em mới vừa vào lớp mà!

Ông Nhạ lắc đầu quay qua nhìn thầy giáo.

Thầy giáo mặt đầy vẻ biết lỗi.

– Không thể trách các em được ạ! Quả địa cầu này khi mua về đã nghiêng thế rồi.

Thầy hiệu trưởng đứng kế bên nhìn thấy nét mặt ngày càng khó coi của ông Phùng Xuân Nhạ, vội vàng giải thích:

– Dạ là vì…để Thủ tướng xem cho dễ ạ!

Ông bộ trưởng nổi nóng đập bàn.

– Nói vớ vẫn!

Thầy hiệu trưởng có vẻ thành khẩn.

– Nói ra thật xấu hổ, vì kinh phí nhà trường có hạn nên chúng tôi chỉ có thể mua được hàng vỉa hè, nên không đảm bảo chất lượng.

Mặt ông bộ trưởng Nhạ tím ngắt, giận dữ đập bàn hét:

– Toàn một lũ đầu óc bả đậu, quả địa cầu bị nghiêng…thì phải kiếm cái gì kê lên cho nó thẳng chứ. 

**********

Người Sài Gòn đêm ngủ lang, sáng xếp

hàng dài chờ sửa xe máy

Lut Saigon

Người dân phải dán cảnh báo hố sâu cho người đi đường – Ảnh: NGỌC HIỂN

     Tại đường Đinh Bộ Lĩnh, Chu Văn An, Xô Viết Nghệ Tĩnh (Q. Bình Thạnh), nhiều đoạn nước vẫn còn ngập sâu đến đầu gối khiến xe cộ của người dân liên tục chết máy. 

     Nhiều xe hơi cũng chết máy nằm im lìm ngay giữa đường. Các tiệm sửa xe trên các con đường này có hàng dài người xếp hàng chờ đến lượt sửa xe. 

     Xếp hàng chờ sửa xe tại một tiệm bảo dưỡng xe máy trên đường Nơ Trang Long (Q. Bình Thạnh), anh Huỳnh Văn Nam (30 tuổi) cho biết đêm 25-11, anh phải thuê khách sạn ngủ bởi xe chết máy không thể về nhà. 

     Sống ở đường Cộng Hòa (Q. Tân Bình), có công việc nên tối 25-11 anh Nam phải đến đường Nguyễn Gia Trí (Q. Bình Thạnh) nhưng lại không thể về vì nước ngập quá đầu gối, xe chết máy không thể di chuyển. Do vậy, anh Nam đành bỏ ra 200.000 đồng ngủ tại khách sạn. 

 Dân Sài Gòn xếp hàng chờ sửa xe máy – Video: NGỌC HIỂN

Xem thêm video khác trên TVO

     Còn với gia đình của anh Đỗ Trọng Tân (Q. Bình Tân), cả 6 người phải ngủ lại nhà người quen ở khu vực Thanh Đa (Q. Bình Thạnh) nhưng sáng nay trở về lại bị ngập nước trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh khiến mấy chiếc xe tay ga đều chết máy. 

     Tương tự, anh Lê Văn Tiến (ngụ đường Đinh Bộ Lĩnh) cũng cho biết trong nhà phải kê đồ đạc lên cao nửa mét bởi nước tràn vào khiến cuộc sống cả gia đình đảo lộn.

Lut Saigon 1.jpg

Người dân xếp hàng chờ sửa xe máy – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 2

Hai cô gái bì bõm lội nước trên đường Đinh Bộ Lĩnh (Q. Bình Thạnh) sáng 26-11 – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 3.jpg

Nhiều người trễ giờ làm, đảo lộn công việc bởi ngập nước, xe hỏng, kẹt xe – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 4.jpg

     Gia đình anh Đỗ Trọng Tân phải ngủ đêm ở nhà người quen tại Bình Thạnh và sáng sớm nay phải đi sửa xe tại đường Nơ Trang Long do cả mấy chiếc xe trong gia đình đều bị ngập nước – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 5.jpg

Dân Sài Gòn dắt tay nhau lội qua biển nước sáng 26-11 – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 6.jpg

Xe hơi chết máy nằm im lìm giữa dòng xe cộ sáng 26-11 – Ảnh: NGỌC HIỂN

Lut Saigon 7.jpg

Đến 9h sáng 26-11, đường Chu Văn An (Q. Bình Thạnh) vẫn còn ngập nước – Ảnh: NGỌC HIỂN

 Chương trình tái thiết kiến trúc cho Việt Nam.

Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/rRvoJi

Nguyên nhân nào Sài Gòn ngập nặng 
Hòn Ngọc Viễn Đông Đã Bị Xóa Tên 

Lut Saigon 8.jpg

Lut Saigon 9.jpg

Hòn Ngọc Viễn Đông Đã Bị Xóa Tên 

      Nguyên nhân sâu xa nào Sài Gòn ngập nặng 

     Nếu như không có “Phỏng dái” 30/4 một Thành phố bị sang tên “Thành Hồ” có bị ngập nặng hay không? 

Vì ai gây ra nông nổi thế này? 

Xin đọc và tìm hiểu qua Nhà Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ 

KIẾN TRÚC SƯ NGÔ VIẾT THỤ: VÌ SAO SÀI GÒN NGẬP NẶNG 

     Lời tòa soạn: Ông là nhà kiến trúc xuất sắc bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, và có lẽ là kiến trúc sư tài ba nhất của đất nước trong thế kỷ XX. Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam đưa ra đây câu chuyện về ông trên Internet để giới thiệu cho các sinh viên ngành xây dựng và kiến trúc một tấm gương để học hỏi. 

     Trong giai đoạn 1950-1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia ở Paris. Năm 1955, ông nhận giải nhất Giải thưởng lớn Rôma về kiến trúc, nội thất thường được gọi là khôi nguyên La mã. Sau đó ông nhận bằng tốt nghiệp kiến trúc sư D.P.L.G.

     Trong thời gian 1955-1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis của viện hàn lâm Pháp tại Roma để làm nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc.

     Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) cùng với một số kiến trúc sư, danh tiếng cùng thời. Ông đã thiết kế nhiều công trình xây dựng lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Nổi bật là dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Hạt nhân Đà Lạt (1962-1965), Làng Đại học Thủ Đức (1962), chợ Đà Lạt (1962), khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962)…

 *****TRƯỚC KHI RỜI SÀI GÒN KIẾN TRÚC SƯ NGÔ VIẾT THỤ CĂN DẶN LẠI NHƯ MỘT DI CHÚC: Không được phát triển thành phố về hướng Nam & Đông Nam. Nếu muốn mở rộng thành phố thì hãy mở rộng về hướng Tây và Tây Bắc. Vì hướng Nam và Đông Nam là nơi duy nhất thoát nước cho thành phố Sài Gòn.”

*****Việc ngập lụt của Sài Gòn còn cần phải kể đến chuỗi thành tích bán đất thịt để đổi lấy xi-măng gạch đá của tư duy công nghiệp nặng mà những người cộng sản có niềm tin quyết thắng là sẽ thành công. Khi có các tòa nhà, các biệt thự…và vài ba đồng tiền trước mắt thì nước mưa không có chỗ đất thịt để trôi đến và ngấm vào. Nước đọng lại trong thành phố không chảy đi được, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Sự xuẩn động của những kẻ cai trị thành phố qua các thời kỳ đã cho phát triển thành phố về hướng Nam và Đông nam nên ngày nay Sài Gòn ngập lụt, vô phương cứu chữa.

     Ở trường đại học Nông Lâm tại Sài Gòn, có khắc tên vinh danh kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người thiết kế nên cả nền kiến trúc trường này, nay đã bị “ai đó” cố tình dời đi.

     Sau khi từ trần, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ có truyền tử là kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn là một kiến trúc sư danh giá của Việt Nam, và tiếp nối tấm gương của người bố, ông Nam Sơn có nhiều đóng góp giá trị về học thuật cho nền kiến trúc nước nhà.

     Viết bởi Triệu Hoài An-Tổng thư ký, Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Bài viết thuộc Chương trình tái thiết kiến trúc cho Việt Nam.

Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/rRvoJi

     Đăng lần đầu ngày 22 tháng 05 năm 2018- Cập nhật mới nhất ngày 27 tháng 11 năm 2018

Lut Saigon 10.jpg

Advertisements

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 5)

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo mời Bạn đọc đoạn này của “Chuyện Đời Tôi” đã có trích đăng dưới tiểu đề “Nước Mất Nhà Tan”. Chắc có nhiều bạn đã đọc qua, nhưng nay vì DT muốn gởi đến các Bạn nguyên câu chuyện dài vì thế DT phải đặt vào để không bị ngắt khoảng, mong Bạn vui lòng, hy vọng rằng tuy Bạn đọc thêm vài lần, DT vẫn mong câu chuyện riêng tư cũng như tâm sự của Dã-Thảo không làm mất thì giờ quý báu của Các Bạn Đọc. Những hình ảnh dưới đây DT copy từ một blog đã post lên ngày 23/03/2011. Thành thật chúc Các Bạn một ngày vui.

Thân mến,

DTQT. 28/11/2018.

Chuyện Đời Tôi (Tiếp Theo 5)

     Vì lương không đủ sống nên tôi rủ chị bạn cùng sở lên Sài gòn đến xưởng vải của một người bà con mua sa-tanh đen đem về Vũng Tàu bán kiếm thêm tiền. Con gái tôi thứ bảy hay chủ nhật cũng theo tôi đi buôn gạo và buôn mỡ heo, trời ạ, chỉ có chục ký gạo, chục ký mỡ mà phải dấu trước dém sau không thôi công an thấy được là bị tịch thu hết. Như vậy mà cũng có thêm chút ít tiền mua thức ăn cho con. Có lần mua mỡ ở chợ trời Sài gòn bị con buôn lường gạt bỏ vào giỏ xách của tôi vài ba ký gì đó, thấy chị bán hàng cân mười ký tôi trả tiền mười ký, vừa nhận tiền xong chị đứng dậy la lên: “cảnh sát, cảnh sát” rồi chạy mất, ai nấy cũng ngạc nhiên nhìn quanh chẳng thấy cảnh sát đâu cả. Tôi từ từ xách giỏ mỡ lên thấy nhẹ hẻo mới hiểu ra rằng mình bị giựt tiền ban ngày giữa chốn chợ đông. Về nhà kể lại cho chị bạn hàng thường nhận mua mỡ giúp mình, vừa bực mình mà cũng vừa thương hại. Chắc gia đình chị bán mỡ ở chợ Sài Gòn kia phải gặp cảnh khó khăn lắm nên khiến chị sinh ra lừa đảo như thế mới đủ tiền nuôi nổi bầy con năm sáu đứa cũng không chừng! Tôi chỉ bực mình thôi chứ không trách chị làm gì, hoàn cảnh tạo nên cả!

     Có một chuyện tôi không mắt thấy, nhưng tai nghe: “Một người đàn bà có năm đứa con chồng đi cải tạo chưa về, không biết suy nghĩ thế nào, chị nấu một nồi cháo bỏ vào một gói thuốc chuột cho năm đứa con ăn, chết hết, chị sắp chúng lên giường nằm ngay ngắn, chị ăn phần còn lại dành cho chị và nằm xuống bên cạnh các con. Thế là xong, không còn suy nghĩ ngày mai lấy tiền đâu mua gạo nấu cháo cho con nữa. Người ta không thấy chị và các con đâu, tò mò đến nhà nên mới khám phá ra chuyện giết hết con rồi tự chấm dứt đời mình. Chuyện thứ hai cũng không mắt thấy nhưng tai nghe, đó là: “Chị Dâu Đầu của tôi, Anh Hai tôi, đi tù cải tạo lâu chưa về chị ở nhà sống cùng con trai và con dâu. Sau những lần đổi tiền không biết sợ hãi chuyện gì, Chị Dâu tôi uống nguyên chai dầu nóng, không cứu được, anh Hai tôi, anh Trần Được hay tin, hai bàn tay nắm lấy song sắt nơi trại cải tạo lắt mạnh kêu lên: “Mình ơi, đâu đến nỗi nào mà mình phải làm như vậy!”. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng chắc phải có chuyện gì uẩn khúc lắm Chị Dâu tôi mới làm như vậy. Còn nhiều chuyện xảy ra lắm nhưng tôi biết có nhiều bạn không những chỉ nghe mà còn được thấy tận mắt nữa kìa, kể  mấy cũng không hết được.

     Còn chuyện của riêng tôi: “có một hôm tôi nói nửa đùa nửa thật với các con, Duyên Nghị Hòa, mẹ nấu nồi cháo bỏ thuốc chuột vào, mẹ với các ăn rồi chết hết cho khỏe. Duyên nhìn mẹ không nói gì, mắt con gái tôi thật đẹp sáng long lanh trông đáng yêu quá. Hòa còn bé không quan tâm mấy, em còn ngây thơ lắm. Nhưng Nghị nói: “chết thì con không sợ, nhưng nếu mẹ bỏ thuốc chuột vào, đừng cho con biết vì nếu con biết có thuốc chuột trong đó con sẽ không ăn, vì con không muốn chết”. Lúc đó Nghị mới hơn chín tuổi. Tôi không ngờ câu nói đó của con trai tôi: “con không muốn chết” là động lực thúc đẩy tôi tìm đường sống cho các con tôi sau này. Tôi có tám câu thơ tặng Nghị, con trai yêu quí của tôi:

  “Mẹ cảm ơn con, con trai của mẹ,

  Đã cứu được hết bốn mạng người rồi, 

                 Con có biết không? mới hơn chín tuổi!

                 Con cứu Mẹ khỏi rơi vào địa ngục,

                 Trong vô thức con nói thật lòng con,

                 Làm thức tỉnh lòng thương con của Mẹ,

                 Hướng Mẹ đi cho đúng việc làm người,

                 Con cứu Mẹ khỏi rơi vào địa ngục”.

      Khách sạn trước trường Thiếu Sinh Quân, đối diện trại gia binh Cô Giang ngày trước, được dùng để mở trường Cán Bộ Y Tế Vũng Tàu đang cần một số giáo viên Nữ Hộ Sinh và Cán Sự Y Tế có kinh nghiệm và giỏi tay nghề sang dạy. Tôi và một cô bạn nữa, cô Bảo, được chị Nữ Hộ Sinh Trưởng chỉ định chuyển qua, chị, Oanh mừng cho tôi và cô Bảo được thoát khỏi Ban Lãnh Đạo nói nhiều mà làm ít, sáng nào cũng họp “ban giao” phê bình kiểm điểm cả tiếng đồng hồ mà chẳng ra cái gì hết nhai đi nhai lại cũng chỉ bấy nhiêu điều: “làm tốt, học tập tốt, tự phê bình, tự kiểm điểm để tiến tới một xã hội khá hơn, đó là XHCN”. Đổi qua đây, tôi và các con được ở một phòng trong khách sạn kê được hai cái giường chồng đủ cho bốn mẹ con chúng tôi. Nấu nướng đều ở trong căn phòng nhỏ dành làm buồng tắm cầu tiêu. Bạn tôi, cô Bảo và năm đứa con cũng vào ở căn phòng đối điện với phòng tôi. Công việc thì không khó khăn gì chỉ soạn bài rồi lên lớp, hằng ngày đưa học sinh đi thực tập buổi sáng ở bệnh viện Vũng Tàu, buổi chiều hướng dẫn lý thuyết tại khách sạn, nay là trường cán bộ y tế. Học sinh thì có đàn ông đàn bà con trai con gái đủ lứa tuổi phần đông ở dưới quê lên, cũng có một số ở tại Vũng Tàu. Học sinh đông, nhưng nếu chỉ kể các chị học về phần hộ sinh, săn sóc trẻ em chúng tôi có khoảng hai mươi người. Còn các nhân viên về ẩm thực và các phần hành khác tôi thấy cũng đông lắm. Những lúc lên lớp như thế, tôi thường thấy có một nhân viên, cán bộ, ngồi cuối phòng học theo dõi phương pháp giảng dạy của giáo viên và phê bình ngay tại chỗ. Tôi nhớ có lần bị phê bình là tôi viết tên thuốc bằng chữ ngoại ngữ, họ nhắc tôi phải chuyển âm qua tiếng Việt và viết bằng tiếng Việt thôi, không được viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Tôi lúng túng không biết nên viết thế nào cho ổn đây! Nhưng cuối cùng tôi vẫn viết tên thuốc như tôi đã tửng được học và mở ngoặc phiên âm ra tiếng Việt cho học sinh đọc, chứ viết loạn quạng chắc không ai hiểu nổi mà đọc lầm tên thuốc thì nguy quá. Quá bận rộn ban ngày, tối còn phải đi học tập hoặc hội họp, nhưng bây giờ thứ bảy chủ nhật hết lội xuống bùn làm lao động XHCN, không đi trực đêm tránh được cảnh kéo ba đứa con lôi thôi lếch thếch đến ngủ dật dờ trong bệnh viện nên cũng đỡ phần nào vất vã.

     Có một tai nạn bất ngờ xảy ra cho một em nữ sinh còn trẻ, học về ngành y tá, em lên sân thượng, lầu ba của khách sạn, leo qua lan can của sân thượng trượt chân thế nào không biết, em rơi xuống ngay sân trước, được đưa vào phòng cấp cứu của bệnh viện Lê Lợi ngay. Lúc bấy giờ tôi đang đưa các em đi thực tập tại các phòng bệnh, nghe tin chẳng lành tôi tức tốc chạy qua phòng cấp cứu thấy em nằm đó mặt mày tái ngắt như không còn dấu hiệu gì của sự sống, tôi cầm tay em thấy mạch không đập, nhân viên ở phòng cấp cứu nhìn tôi lắt đầu, các em khác thấy bạn như vậy chỉ còn biết ôm nhau nức nở, tôi đứng ngẩn người ra chẳng nói được lời nào, chỉ nghe như mình bị nghẹt thở. Tôi cùng các em học viên bước ra, về phòng thực tập, trong trí tôi còn in gương mặt tái sậm của em nữ sinh bị tai nạn, ngã từ lầu ba của ký túc xá xuống sân trước khách sạn, nay trở thành trường Cán Bộ Y Tế Vũng Tàu.

**********

 Tôi tình cờ gặp một cựu thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa, còn rất trẻ, tuổi mới hai mươi lăm, trên cánh tay có xâm hai chữ “Sát Cộng” đã bị xóa đi nhưng tôi vẫn còn đọc được. Theo như lời anh nói anh không bị đi tù cải tạo vì anh chỉ là lính tình nguyện thường, không có cấp bậc gì, đang tìm đường vô “Bưng”. Anh nói anh sẽ đi Vĩnh Long gặp vài cựu quân nhân khác xem sao. Tôi gợi ý cho tôi đi theo với. Anh nhìn tôi hỏi:

          – “Chị nói thật hay nói đùa?”

          – “Nói thật” tôi trả lời.

          – “Thứ bảy tôi đi”.

          – “Chờ tôi ở đây”.

     Sáng thứ sáu, tôi đưa các con về Sài gòn gởi cho cô Liên, chị ruột của chồng tôi, thưa với chị là tôi có việc cần phải ở lại đêm nên không dám để các cháu ở nhà trong lúc tôi đi vắng. Chị nhận lời mà không gặn hỏi lôi thôi gì cả. Thứ bảy, đến Vĩnh Long tôi bất ngờ gặp lại một nữ quân nhân có quen biết vợ chồng chúng tôi và một người đàn ông cao lớn tướng tá phương phi, tôi không thể đoán được tuổi vì hàm râu ông để trông giống người khác thế kỷ với tôi.  Người cựu Nữ quân nhân khuyên tôi: “Bà nên về với các cháu, “Họ” không bằng lòng nhận bà với ba đứa nhỏ, khó lắm không được đâu!” Vì thế tôi và anh cựu quân nhân trẻ phải quay về ngay chuyến xe chót của những người đi buôn qua đêm từ Vĩnh Long lên Sài gòn. Anh cựu thủy quân lục chiến bảo tôi:

          – “Chị đừng lo tôi sẽ tìm đường vượt biên, chị muốn đi không?”

          – “Sao không, cho gia đình tôi đi với” tôi trả lời.

          – “Đông quá, chị bỏ bớt hai đứa được không?”

          – “Đi thì đi hết, bỏ một đứa cũng không”.

          – “Khó lắm chị biết không?”

          – “Tôi biết, nhưng tôi không bỏ con”.

     Lên đến Sài gòn tôi ghé đón con về ngay. Chủ nhật tiếp theo sau tôi mua thức ăn đi thăm nuôi, đưa các con lên thăm chồng ở trại tù cải tạo Long Khánh, tin cho anh biết là tôi sẽ đi vượt biên. Chồng tôi bảo:

          – “Đợi anh về rồi cùng đi”.

          – “Không biết bao giờ họ mới trả lại tự do”, tôi do dự.

     Sau khi lên thăm chồng về tôi đưa các cháu lên Sài gòn thăm Ba Mẹ chồng, anh chị chồng, nhân tiện tôi cũng báo tin với gia đình bên chồng là tôi sẽ ra đi nhưng chưa biết khi nào. Ai cũng khuyên tôi nên thận trọng. Chuyến đầu tiên không thành công, rất may là không bị lôi thôi, nhưng “thua keo này bày keo khác”. Tôi có nghe những chuyến đi bị bại lộ bị công an biên phòng chận lại đánh đập, cho vào tù, rồi những chuyến đi bị chìm tàu chết đuối xác trôi vào các bãi biển v.v. Chị Oanh khuyên: “thôi bỏ ý định vượt biên đi bà Quế, thấy người ta chết xác trôi vào bãi biển không?” tôi cũng bị giao động không ít nhưng đã quyết tâm nên cứ nhắm mắt đưa chân, chết ở đâu cũng là chết chỉ không biết sớm hay muộn thôi, lo được đến đâu cứ lo.

     Có những chuyện xảy ra không vừa ý ở trường Cán Bộ Y Tế, tôi thấy ban chấp hành cứ hay làm thịt heo, ngay trong ký túc xá của trường, chia nhau, rồi ăn nhậu um sùm, tôi cảm thấy có cái gì không ổn, lúc nào cũng thấy lo âu, và nhất là không đủ thời giờ lo cho chuyện vượt biên, tôi xin thôi việc. Dọn ra ở nhờ nhà người bạn gái, chồng cũng đi tù cải tạo, tôi có nhiều thời giờ chạy lên chạy xuống Sài gòn buôn cái này bán cái kia kiếm sống. Sau đó tôi mướn được một căn nhà nhỏ trong ngõ hẻm khu chợ Bến Đình gần trại gia binh Cô Giang ngày xưa. Đưa các con về ở đấy tưởng là đã yên thân, ai ngờ chỉ được hơn hai tháng là có mấy anh công an ghé đến hỏi thăm:

          – “Chồng đi cải tạo hơn hai năm chưa về, nếu chị muốn anh về sớm thì nên chuyển gia đình đến vùng Kinh Tế Mới ra sức trồng trọt làm ăn, anh sẽ được cách mạng khoan hồng xét cho anh về cùng với gia đình lo lao động để phục vụ xã hội chủ nghĩa”.

     May mắn cho tôi là chính tôi đã có một ít kinh nghiệm về lao động này rồi, phần nữa là do một số bịnh nhân bỏ những vùng kinh kế mới chạy về trị bịnh kiết lỵ sốt rét cho cả gia đình, mà tôi đã có lần săn sóc họ trong những tháng ngày qua, nằm la liệt trên sàng nhà và ghế công viên bệnh viện. Có lần tôi ra bãi trước, đói bụng ghé quán ăn tô phở, một bé trai cở con tôi lấp ló phía sau, tôi ăn xong vừa đứng lên, em bé vội vàng bước tới ôm ngay tô nước phở còn lại uống ngon lành. Tôi sững sốt vì quá bất ngờ, nghĩ đến các con tôi vội vả về nhà để yên chí là các con vẫn còn được bình yên. Lên Sài gòn cũng không khác gì hơn, còn tệ hơn nữa, họ bị mất nhà vì chính phủ đã chia cho họ những khoảnh đất khô khan cằn cỗi, ở một nơi mà họ chưa từng đặt chân tới, với những chòi tranh không điện không nước, tự lực cánh sinh với hai bàn tay xới đất trồng lúa trồng khoai, với số tiền ít ỏi dành dụm từ bấy lâu nay ngồi chờ mãi mà có thấy lúa gạo khoai sắn gì đâu. Hết tiền hết gạo phải quay về thành phố sống dật dờ ở đầu đường xó chợ. Họ và con cái trở thành hành khất của Hòn Ngọc Viễn Đông ngày nào. Ai ơi, thấy bắt não lòng!

     Ngày nào cũng có người ghé thăm, công an phường Bến Đình làm việc đắc lực thật. Đuổi thì tôi đi, nhưng tôi không đi kinh tế mới, tôi đi vượt biên, tôi quyết chí vượt biên với bất cứ giá nào. Tôi không muốn một ngày nào đó, nếu không có tôi, con tôi có thể chẳng có gì ăn và trở thành những em bé khất thực giữa chợ đời, tôi giật mình khóc rưng rức khi nhớ lại em bé uống tô nước phở còn lại của mình.

Còn tiếp

DTQT 28/11/2018.

image020image063image062image058

Những hình ảnh đau thương và nghèo đói 

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 4)

Cùng Bạn Đọc,

Mời Bạn  đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi”.

     Bé Duyên thấy mẹ và em về mừng quá chạy qua nhà kế bên khoe rối rít là:

  – “Mẹ về nhà rồi, mẹ đẻ một con mèo nhỏ chút xíu”, vừa nói Duyên vừa đưa hai cánh tay lên ra dấu bằng hai bàn tay cách khoảng nhau một đoạn nhỏ “có chút xíu” khiến bà hàng xóm qua thăm kể lại ai cũng cười. Tôi trải qua thời kỳ hậu sản thật buồn trong căn nhà tôi đã sinh ra và lớn lên. Ba tôi bị đau ở ngón chân nên nằm yên một chỗ không đi lại được nhiều. Cơm nước cho Ba tôi thì đã có chị Dâu vợ Anh Hai tôi lo và anh Cang săn sóc cho Ba. Tôi có mướn một bác gái để lo cho tôi và một cô gái nhỏ, mười hai tuổi, để trông, chơi với Duyên và Nghị nên tôi không đến nỗi bận bịu nhiều. Căn nhà Anh Chị Hụê Mai bị Việt cộng phá nát năm trước đó nên, gia đình Anh Chị Hụê Mai cũng sang ở cùng nhà nên tôi không đến nỗi cô đơn lắm, tuy hơi chật. Trước đó, vì thấy nhà rộng không có ai ở Ba cho mướn bớt một căn không thể lấy lại ngay được. Tôi dời lên ở chung với Anh và Chị Dâu thứ Bốn, của Ba Me, nhà rộng cho thoáng mát. Anh Chị Bốn và các cháu rất vui khi đón chúng tôi. Ở cạnh Anh Ba và Chị Ba cũng thật vui, bé Lãy cứ hay bế Nghị và kéo Duyên qua vườn sau nhà Anh Chị Ba để vui đùa nên tôi không lo các cháu ra đường, sợ xe cộ. Anh Chị Hụê Mai được di chuyển ra Huế để làm việc. Ba lại sống một mình với anh Cang! Thương Ba quá đi thôi.

     Một điều đáng nói ra lúc bấy giờ là Bộ Y Tế cho tôi lãnh cả năm lương bỏ nhiệm sở, thật là một điều vô cùng xúc động cho tôi lúc bấy giờ, tôi thầm cảm ơn ông Chánh văn phòng Bộ Y Tế, đã thông cảm cho hoàn cảnh đáng quan tâm của tôi và có lẽ ông đã hiểu vì sao tôi bị đổi đi Dacto lúc bấy giờ, vì sao tôi đã từ chối không trở về làm việc dưới quyền ông trưởng ty nọ.

     Sau khi lo xong nơi ăn chốn ở cho Duyên và Nghị chồng tôi xin nghỉ phép để về thăm vợ con. Lúc trở vào Anh đưa Duyên, Nghị vào Vũng Tàu ở với Anh và Bà Nội của hai cháu, từ Sài gòn xuống. Bà bằng lòng xuống Vũng Tàu giúp chồng tôi trong lúc chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh bối rối này. Một lần nữa phải nói là tôi mang ơn Mẹ chồng tôi nhiều, rất nhiều. Hòa được hai tháng tôi bế con trở vào Tam Kỳ làm việc, tạm trú trong phòng trực của Khu Hộ Sinh Tam Kỳ để có thể vừa làm việc vừa săn sóc con, vừa làm đơn xin thuyên chuyển theo chồng, đó là những điều mà tôi không thể nào xao lãng được. Hòa được năm tháng rưỡi tôi mướn được một chị giúp việc nên tôi đưa Hòa cùng chị Sáu vào Vũng Tàu sống với Bà Nội và Bố cùng hai đứa con lớn Duyên, Nghị. Tôi trở lại nhiệm sở một mình. Bấy giờ tôi sống đời ở trọ, ăn cơm tháng nhà người quen, rảnh rỗi đi lang thang buồn và nhớ con quá! Không biết chị Sáu có săn sóc các con được không đây?

     Bộ Y Tế cấp cho khu Bảo sanh Tam Kỳ một chiếc xe nhỏ để đi vãng gia, nhưng chẳng có cô nào biết lái xe hơi, tôi xung phong học lái và ông Bác sĩ Trưởng ty thân hành tập tôi lái chiếc xe hơi nhỏ, chở tôi đến một cánh đồng rộng, không có xe và người qua lại. Ông nhường tay lái qua cho tôi nói tỉnh bơ:

        -“Cô lái đi đừng sợ gì hết”

Tôi hồi hộp quá nhưng cứ đánh bạo cầm tay lái rồi hỏi ông:

        -“Chạy sao đây không có đường sá gì hết làm sao chạy?”.

Ông cười nhẹ nhàng bảo tôi:

        -“Như thế mới chạy được, chạy được rồi mới chạy ra đường chứ”. Ông dạy tôi cầm tay lái thế nào, đạp ga và thắng ga ra sao. Vậy là tôi cứ làm theo sự chỉ dẫn của ông chẳng chút ngại ngần, chạy từ từ rồi nhanh dần, chạy đi đâu cũng được, miễn chạy được là được. Một tiếng đồng hồ sau tôi chạy vững, BS bảo:

        -“Bây giờ chạy về bệnh viện đi”

     Tôi hết hồn nhưng vẫn làm theo lời ông, lái xe ra đường cái, run quá nhưng tôi lái xe về đến bệnh viện an toàn, ông Bác Sĩ có vẻ bằng lòng tôi lắm, và những buổi thực tập lái xe tiếp theo của tôi được ông giao cho một anh quân nhân, tài xế lái xe cho ông. Cuối cùng tôi điều khiển được chiếc xe bốn bánh! Cảm ơn Bác Sĩ Trưởng Ty. Và sau đó những lần đi vãng gia tôi lái chiếc xe hơi nhỏ đi với một em Nữ Hộ Sinh Hương Thôn mà không phải làm bận rộn đến bác tài xế của bệnh viện nữa. Sau khi tôi rời Tam Kỳ vào Vũng Tàu hình như một chị khác tập lái xe để đi vãng gia về sau này.

**********

     Tôi bước vào nhà, Duyên thấy tôi là khóc vì mừng và hình như có hơi giận tôi thì phải vì tôi xa chúng quá lâu, Nghị đứng nhìn mẹ không nói gì vì tôi bận chạy đến với bé Hòa đang ngồi trên giường, bị bà Nội giữ cho khỏi rơi bằng một sợi dây an toàn, để Nội có thể vừa làm việc vừa có thể canh chừng cháu, bé Hòa không cho tôi ẵm vì thấy lạ. Bé được mười hai tháng mà chưa biết đi vì còn yếu. Bà Nội thật bận rộn với các cháu thấy thương quá, bà kể chuyện: “Con Sáu bỏ đi mất hai ba tháng nay nên muốn làm gì là phải “cột” hắn (Hòa) lại”. Tôi ôm lấy các con, bật khóc vì nhìn thấy hoàn cảnh gia đình mình như vậy. Cũng may là chồng tôi chỉ đi dạy học cho các con em quân nhân tại trường Thiếu Sinh Quân chứ không đi tác chiến như lúc còn ở Hội An, nhờ vậy anh cũng có thể chăm sóc các con được phần nào. Chúng tôi được chính phủ cấp nhà ở, không phải đóng tiền, trong trại gia binh trước trường, có tên là Trại Cô Giang, chỉ bước ra khỏi cổng băng qua đường là đến ngay nơi làm việc. Còn tôi, bệnh viện xa nên tôi phải đi xe “Lam” đến sở. Trạm xe gần ngay trước trại Cô Giang nên cũng rất tiện nghi.

     Sau khi trình diện nhiệm sở mới, tôi xin nghỉ một tuần để vui hưởng những gì tôi đã thiếu thốn bấy lâu nay. Chị Tư được mướn để lo việc nhà và cơm nước cho chúng tôi. Bà Nội các cháu được nghỉ ngơi, có thể ngồi yên, hoặc đọc sách đọc báo mà không bị các cháu làm rộn. Đây là khoảng thời gian tôi cảm thấy tôi thật sự hạnh phúc không còn lo âu sợ hãi nữa. Cảm ơn Mẹ chồng, tôi thương Mẹ chồng và thật lòng kính trọng Ông Bà Nội của các con tôi. Nói cho đúng vì tôi làm dâu Huế nên nếu sơ ý tí xíu là cũng có thể làm phật lòng Mẹ chồng nên bao giờ tôi cũng cố gắng giữ tròn bổn phận làm dâu cho phải đạo. Tôi nhớ có một lần tôi đi trực phiên sáng, vì quá hấp tấp nên bước ra cửa trước quên chào bà cụ, sực nhớ lại ngay, nên vội vòng lại cửa bên, làm bộ như chưa ra khỏi nhà, lên tiếng tự nhiên:

   – “Thưa Me con đi”.

   Mẹ chồng tôi mỉm cười, tay cầm quạt phe phẩy:

   – “Ừ, đi chiều về, hôm nay con trực sáng phải không, thôi con đi kẻo trể”.

   – “Dạ, thưa phải đó Me, con đi đây.”

Trời, hú vía, vậy là mẹ chồng tôi biết tôi trực sáng, vì vội vàng hấp tấp nên quên chào chứ tôi không qua mặt được Me tôi đâu nhé! Bà còn sáng suốt lắm.

   Chồng tôi là một trong các Huynh Trưởng của nhóm Hướng Đạo Sinh ở Vũng Tàu, thường tổ chức cho các em đoàn sinh đi cắm trại, trong đó cũng có một số các em ở trường trung học Thiếu Sinh Quân tham gia vào. Tình thầy trò trộn thêm tình hướng đạo nên tôi thấy các em Thiếu Sinh Quân và chồng tôi đối xử với nhau như tình anh em vậy, thật đáng quý.

     Vũng Tàu có nhiều phong cảnh đẹp, chúng tôi thường đưa các con đi du ngoạn Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, có chụp ảnh rất nhiều để làm kỷ niệm, nhưng bây giờ tôi không còn giữ được tấm nào, thật lấy làm tiếc vô cùng. Thứ bảy và chủ nhật, Vũng Tàu đông người lắm, họ từ Sài gòn đi nghỉ mát, nhập cùng dân địa phương để được tắm, được bơi lội trong nước biển mặn mà mát rượi. Phải nói là tuyệt diệu, Sài gòn nóng bức ồn ào bao nhiêu thì Vũng Tàu lại mát mẻ yên tỉnh bấy nhiêu, cho nên du khách đến thật đông. Kèm theo những lúc đưa gia đình du ngoạn chứng tôi cũng nhập cùng những người đi tắm biển thật vui.

     Cũng có những giải trí khác như: mỗi khi rạp hát có quảng cáo chiếu phim Lý Tiểu Long là thế nào chúng tôi cũng kéo nhau đi xem cho bằng được, gia đình tôi ai cũng thích tài tử Lý Tiểu Long trong những phim đánh võ, một mình đánh thắng cả đám hung hăng!

     Bé Duyên đến tuổi vào mẫu giáo, rồi Nghị cũng nối chân theo chị đi học lớp mẫu giáo trong trại Cô Giang. Con gái tôi được Ông Nội, mỗi khi từ Sài gòn xuống thăm, dạy đánh cờ tướng, thường chơi đánh cờ với Ông Nội nên cũng khá về phương diện này. Thỉnh thoảng có anh Tăng học bên trường Thiếu Sinh Quân đến thăm nhà, anh và bé Duyên cũng chơi cờ tướng với nhau, có lúc bé chấp anh Tăng một xe hoặc một pháo mà vẫn thắng, vậy mới tài chứ! Anh Tăng cứ khen hoài.

     Có một thay đổi bất ngờ, cuối năm 1973 chồng tôi phải di chuyển lên Pleiku để giúp các em học sinh thuộc trường Thiếu Sinh Quân cao nguyên, vùng này có một số các em thuộc gia đình quân nhân người Thiểu Số. Chồng tôi khi ra đi có mang theo mấy cuốn album ảnh của gia đình vì thế cho nên khi cao nguyên thất thủ năm 1975 anh bỏ lại tất cả, theo đoàn người chạy loạn, chỉ kéo theo được một em Thiếu Sinh Quân người dân tộc thiểu số về đến Vũng Tàu, sau 30/04/1975 em muốn trở về Pleiku nên chồng tôi lo cho em được toại ý. Cuộc đời của vợ chồng chúng tôi thay đổi theo thời thế từ lúc bấy giờ.  

     Nước mất thì nhà tan, tất cả chúng tôi sống trong trại Cô Giang đều bị đuổi ra khỏi trại, tự tìm nơi trú ngụ ở ngoài. Bác Đàm, một người đàn bà góa tử tế, cho chúng tôi ở trọ trong căn nhà nhỏ của bà. Sau khi lo cho mẹ con chúng tôi có nơi ăn chốn ở, hai tuần lễ sau chồng tôi bị Cộng sản đưa đi học tập. Tất cả Sĩ quan và công chức cao cấp miền Nam Việt Nam đều phải đi học tập cải tạo, nói là học tập chứ thật ra tất cả bị đi tù cải tạo thì đúng hơn. Họ bảo đi học tập mười lăm ngày, nhưng sau một năm rồi hai năm cũng chẳng thấy ai được trả lại tự do. Thời gian đó tôi vẫn còn làm việc tại Vũng Tàu, ban ngày đi làm việc ban đêm đi học tập, cuối tuần đi đào mương, vét rãnh cho nước vào ruộng, nước ngập bùn lầy lên ngang lưng quần, khiến tôi lo lắng, họ gọi đó là: “làm lao động Xã Hội Chủ Nghĩa”. Ba tháng sau chúng tôi mới được lãnh lương lần đầu tiên sau ngày mất nước. Trong thời gian không lương tôi tiêu hết tiền để dành, nên đến lúc đổi tiền tôi cũng chẳng còn tiền đâu mà đổi. Lương bây giờ tính theo tiền mới, vật giá leo thang vùn vụt lãnh lương xong mua chẳng đủ ăn cho một tháng vì thế đồ đạc trong nhà đi ra vùn vụt, TV, tủ lạnh, giường ngủ đôi, áo quần giày dép sang trọng đẹp đẽ cũng bay theo, vàng vòng nhẫn hột cũng rủ nhau đi đến tiệm cầm đồ, rồi mất luôn vì không có tiền chuộc lại. Kinh nghiệm đầy mình nên những lần sau không cầm nữa, bán luôn cho rãnh nợ. Tôi bận đi làm, không có ai ở nhà chăm các con, chúng bỏ học đi chơi tôi cũng không hay biết, hôm nào trực đêm tôi đưa hết các con đến bệnh viện ở lại với tôi, không bao giờ tôi để các con tôi ở nhà ban đêm khi tôi đi vắng.

    Sau lần bị đổi qua làm việc ở các phòng bệnh truyền nhiễm, vì đi mời một Bác sĩ “Ngụy” mà không trình “Ban Lãnh Đạo”, chị Oanh nghe một bà Bác sĩ đang làm ở sở Du lịch Vũng Tàu muốn có một Nữ Hộ Sinh qua làm việc trong các khách sạn Vũng Tàu, chị giới thiệu tôi qua đó làm việc để không còn bị trù dập lệ thuộc “Ban Lãnh Đạo” bệnh viện nữa. Thôi kệ làm đâu cũng được miễn tránh được cái Ban Lãnh Đạo ác ôn này cho đỡ chán. Bước vào văn phòng bà Bác sĩ trưởng khu Du Lịch Vũng Tàu, vừa trông thấy bà là tôi muốn bước ra ngay nhưng đã gặp mặt nên đành phải ngồi xuống để được phỏng vấn. Sau phần trình bày lý lịch bà cho tôi biết nhiệm vụ của tôi là: chỉ “Thực Hành Việc Phá Thai” cho các chiêu đãi viên đặc biệt trong khách sạn, người có nhiệm vụ “đi” với khách hàng. Tôi hết hồn, rùng mình từ chối. Bà Bác sĩ hỏi tại sao? Tôi thành thật trả lời bà ta: “luật lệ trong Nam cấm phá thai, ngoại trừ trong trường hợp để cứu người mẹ vì bị động thai và băng huyết quá nhiều không thể giữ thai nhi được, hoặc mẹ bị bịnh nặng về tim, phổi, thận, ung thư v…v… không đủ sức mang thai vả lại học ngành này tôi chỉ biết dưỡng thai chứ không được phá. Vậy là bà nổi giận trả lời tôi: “Cái chính quyền miền Nam của các chị chỉ biết nói ở cái miệng chứ giết hại không biết bao người rồi. Sao phá thai chị cho là có tội? Sao chị không nghĩ đến tương lai của người con gái là sau đó họ có thể lập gia đình?”.

     Tôi lắc đầu đứng dậy chào đi ra, không thèm ngó lại. Về đến bệnh viện kể lại cho chị Oanh nghe sự việc: “Chính phủ có mở nhà điếm, chứa gái điếm nữa, nếu em qua đó thì chỉ có việc phá thai cho mấy cô gái làng chơi, do nhà nước điều khiển thôi”. Chị ngẩn người ra kêu: “Trời” rồi im luôn. Tôi về nhà ngủ không được, cứ suy nghĩ mãi quanh quẩn hoài trong trí tưởng cái tương lai lạ lùng sẽ úp xuống đầu chúng tôi, con cháu chúng tôi, cái tương lai đen tối không cùng đến thế sao?

Còn tiếp,

DTQT. 27/11/2018.

Pho co Hoi an

 

NHẬP GIA TÙY TỤC.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã Thảo viết bài này năm 1984, tự nhiên hôm nay đọc lại sau ba mươi bốn năm thấy cũng kỳ và hơi lạ nữa. Bây giờ không biết DT có khác xưa nhiều lắm không, chính mình không phân biệt được những thay đổi của chính mình thì còn nói gì những chuyện đã viết cách đây mấy mươi năm. Tuy thế DT cũng muốn post lên để các Bạn đọc và cho DT biết những suy nghĩ của Thảo có còn “hợp lệ” hay không? Hay Thảo đã thuộc về loại già khú đế không còn thích hợp với thời đại mới nữa. Nếu có Bạn đồng ý với DT xin cho Thảo vài lời khuyến khích để Thảo lấy lại sự tự tin của mình. Thành thật cảm ơn Các Bạn.

Thân mến, mời Bạn đọc:

Nhập Gia Tùy Tục.

      Đàn bà Việt-Nam chúng ta không có thói quen uống rượu hút thuốc lá như đàn bà Tây Phương. Nhất là không có thoái quen kéo nhau vào quán rượu sau một ngày làm việc mệt nhọc, uống cho nghiêng ngã, bước ra khỏi quán rượu nhàu nhèo nồng nực. Lần mò về đến nhà thì chẳng biết trời đất là đâu cả. Rủi ro gặp một tên du thủ du thực nào đó lái xe chạy qua thấy được, ấy vậy là hắn chẳng ngần ngại gì mà không bốc bỏ lên xe lôi ra chỗ vắng…và sáng hôm sau thấy báo đăng: “Tìm thấy xác một người đàn bà như thế… như thế…”

     Con gái ở đây cứ cho là mình có đủ quyền sống tự do khi đến mười sáu tuổi. Vì thế cho nên các cô cứ đợi đến lúc đó là bỏ mẹ bỏ cha bỏ anh chị em chạy theo bạn bè sống tự do trác táng. Lắm cô tự ý sống chung với bạn trai, nhưng sau một thời gian rồi tan vỡ. Có lắm cô rơi vào con đường sa đọa mà không thể nào quay trở lại được. Có cô không dám quay về vì đã bị cha mẹ từ bỏ. Cũng có trường hợp các cô không muốn quay về vì cuộc đời đã hư hỏng lại còn đeo thêm thói xấu nghiện rượu nghiện ma túy v… v…

     Nhu cầu của cuộc sống thì quá cao mà các cô tuổi còn quá trẻ, tình trạng không có công ăn việc làm kéo dài khiến các cô không đủ sức chu cấp cho những nhu cầu cần thiết cho chính mình, do đó các cô dễ rơi vào tay của các tú bà.

     Xã hội nào cũng có cái xấu và cái tốt của nó, Thảo không dám ngạo mạn chỉ trích và phê bình. Mặc dầu chúng ta thường hay nói: “Nhập gia tùy tục”, tuy thế chúng ta cũng nên tùy cái tục mà bắt chước.

     Ví dụ chúng ta vẫn gọi ông nhạc bà nhạc là cha mẹ, nhưng ở đây thường hay thấy lớp trẻ gọi tên tộc của cha mẹ hai bên và của cả ông bà nội ngoại nữa. Họ cho thế là thân mật. Thử nghĩ, nếu mình lấy cái “tục” đó mà “nhập” thì chắc là kỳ lắm.

DTQT. 24/11/2018. 

Vịt mẹ và vịt con                                                                                   

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo 3)

  Cùng Bạn Đọc,

     Mời Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi” . Chuyện còn dài vì thế cho nên DT phải ngắt ra nhiều đoạn, chứ đọc một lần thì sợ cần nhiều thời giờ của Các Bạn, mong Bạn vui lòng đọc hết, cảm ơn Bạn rất nhiều.

Thân mến,

DTQT. 23/11/2018.

     Năm 1964 tôi tốt nghiệp, ra trường về lại Hội An sống với Ba và em Kiến một thời gian không lâu lắm, Ba Me Anh Kỳ vào Hội An cùng Ông Bà Hồ Ngận đến thăm Ba và xin tổ chức lễ đính hôn cho chúng tôi. Anh Kỳ là cháu gọi Bà Hồ Ngận bằng Cô, Bà là cô giáo của tôi lúc tôi còn học ở tiểu học, Ông Hồ Ngận là cựu Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Nam và là bạn của Ba tôi, cho nên việc hỏi cưới của chúng tôi không có gì trở ngại. Xong việc vị hôn phu của tôi phải đi vào tận Thu Xà thuộc tỉnh Quảng Ngãi vì anh được bổ dụng về dạy ở trường Trung Học Thu Xà xa xôi đó. Tôi có đến thăm anh vài tuần trước khi được sự vụ lệnh của Bộ Y Tế đưa lên làm việc tại Kontum, miền cao nguyên trung phần Việt Nam.

     Một thời gian sau, theo lời khuyên của Ba tôi: “Kỳ đừng để Quế ở một mình trên đó, coi chừng mất vợ”. Anh vâng lời Ba từ giã Thu Xà lên Kontum sống cùng tôi. Vị hôn phu tôi dạy học ở trường trung học tư thục Bồ Đề. Năm 1965 chúng tôi về Hội An tổ chức làm đám cưới vào ngày 13/09/1965. Anh vừa là giáo viên vừa là Huynh Trưởng của các em học sinh Phật tử nên nhà chúng tôi lúc nào cũng rộn rịp tiếng cười vì, các em thường ghé thăm. Chúng tôi mướn nhà ở gần chùa Tỉnh Hội Kontum, có trường Trung Học Bồ Đề và cũng là nơi các em học sinh Phật tử đến sinh hoạt vào mỗi sáng chủ nhật. Sau khi có cháu Phước Duyên tôi quả thật bận rộn nên phải mướn một chị đến giúp việc cho chúng tôi. Chị Lan còn trẻ có một đứa con trai nhỏ, cở tuổi cháu Phước Duyên, bị chồng bỏ. Nghĩ thương cho hoàn cảnh chị, nên khi nghe chị muốn được giữ con trong nhà cùng với gia đình chúng tôi, tôi nhận lời ngay không ngần ngại. Vậy đó chứ chị Lan cũng giúp tôi được nhiều việc trong nhà lắm, chị cũng hiền lành và dễ thương nên con gái tôi cũng mến chị. Chồng tôi thỉnh thoảng đưa các em đoàn sinh Phật Tử đi cắm trại trong rừng, nơi có suối, có sông và, có một ngôi chùa nhỏ với vài Ni cô, tôi chẳng sợ gì mà không bế con gái Phước Duyên của tôi tháp tùng ông xã đi cắm trại và tiện thể thăm các Ni cô luôn. Và chị Lan có một ngày nghỉ chủ nhật thật bình yên ấm cúng ở nhà một mình với con trai chị, không phải bận rộn lo cơm nước cho chúng tôi. Có phải là “nhất cử lưỡng tiện” không! Rừng núi cao nguyên đẹp lắm, càng nhìn càng thấy mình bị thu hút, như bị hớp hồn vậy đó. Nước suối trong thật là trong để phô bày hết cái trung thực không dấu diếm cái đẹp thiên nhiên của tạo hóa dành cho dưới đáy lòng con suối. Chúng tôi chụp rất nhiều ảnh để kỷ niệm, nhưng bây giờ tôi không còn giữ được tấm hình nào sau những biến cố lao đao lận đận trong cuộc đời tôi sau này.

     Sau vụ Phật Giáo đưa Phật xuống đường chống kỳ thị Phật Giáo, một người bạn thân trong chính quyền lúc bấy giờ nghe tin không lành là chồng tôi có thể bị công an “mời” nên báo cho chồng tôi hay và quyết định giúp anh rời Kontum vào Sàigòn ngay ngày hôm sau để lánh nạn. Bé Duyên đã biết đi chập chững còn tôi đang mang thai được năm tháng. Chồng tôi về Sàigòn lên Phú Thọ ở nhà anh chị Hành, chị là cháu gọi Ông thân sinh chồng tôi bằng Cậu ruột. Anh viết thư về cho tôi hay và muốn tôi vào Sàigòn trước ngày sanh dự đoán vì Ba Mẹ chồng tôi đang ở Sàigòn với gia đình người con trưởng của Ông Bà. Tôi vào Sàigòn trước khi sanh một tháng và làm lễ thôi nôi cho bé Duyên có Ông Bà Nội đến làm lễ thôi nôi cho cháu nên cũng thật là vui.

     Tôi sanh được một cháu trai ở bệnh viện Hùng Vương Sàigòn. Chồng tôi quyết định sau khi tôi sanh xong và trở lại nhiệm sở, Anh sẽ vào quân trường Thủ Đức trình diện nhập ngũ vì Anh nói là tình hình chiến tranh đang đến hồi khốc liệt, Anh không trở lại Kontum đi dạy nữa, Anh muốn tòng quân thôi. Tôi thấy lo lắng chứ không có ý kiến gì trong việc này, vì tôi luôn nhận thấy Anh làm gì cũng có sự suy nghĩ cả. Tôi thấy Anh đúng nên không phàn nàn đòi hỏi gì, mặc dầu mẹ con tôi rất cần sự có mặt của Anh trong lúc này.

   Sau khi sanh gần hai tháng tôi trở lại nhiệm sở cùng với hai đứa con thơ, và mẹ con chị Lan giúp việc, Mẹ chồng tôi thấy hoàn cảnh của tôi như thế bà không đành lòng, nên cũng đi theo chúng tôi lên Kontum. Chúng tôi tất cả đi bằng Hàng không VN vì đường bộ quá xa và nguy hiểm vì Việt Cộng thường hay đặt mìn hoặc có thể chận xe lại để bắt cóc quân nhân hoặc những ai mà chúng nghi ngờ làm gián điệp, rồi sau đó thảm sát họ. Đến nơi, cả gia đình sáu người chúng tôi được một chị bạn thân cho tạm trú ở nhà Bảo Sanh Tư của chị. Được ba hôm, mướn nhà xong tôi lo mua sắm thêm ít đồ đạc cần thiết và dọn đến một căn nhà ba phòng khá rộng đủ cho sáu chúng tôi. Một điều đáng tiếc là chị Lan xin thôi việc. Nghe đâu chị trở lại Sàigòn và sống chung với anh gia nhân phụ việc cho Anh Chị họ của chồng tôi ở Phú Thọ. Tôi thật sự không biết chị Lan có được hạnh phúc hay không, chứ từ ngày chị rời gia đình tôi đến nay là bốn mươi bảy năm rồi tôi không nghe tin tức gì của Lan và con trai của chị. Tôi cầu nguyện cho mẹ con chị được ấm no hạnh phúc.

     Tôi thật vất vả, nhưng phải nói là tôi đã mang ơn Mẹ chồng tôi rất nhiều trong giai đoạn này, nếu không có Bà Nội các cháu thì quả thật một mình tôi thì chắc chắn là khó cho tôi lắm. Tết mậu thân năm 1968, chồng tôi, vẫn còn ở quân trường Thủ Đức, được về phép ăn Tết thăm gia đình ở Kontum. Đó là Tết có đình chiến nhưng Việt Cộng không giữ lời hứa và tấn công khắp nơi ở miền Nam. Đêm đó đánh nhau ngay trong thành phố Kontum. Đang nằm ngủ chúng tôi nghe đạn bắn khắp nơi, tôi tưởng thiên hạ đốt pháo mừng xuân nhưng không, chồng tôi nói:

   – “Không phải đâu em tiếng súng chứ không phải tiếng pháo, mình bị Việt cộng tấn công rồi”.

     Vậy là cả nhà vùng dậy chạy xuống phòng dưới, trải chiếu xuống đất nằm. Một tiếng nổ thật lớn của Việt cộng pháo kích rớt cạnh nhà người hàng xóm của tôi khiến tôi khiếp hồn ôm chặt lấy con gái tôi vào lòng, bà Nội ôm chặt cháu trai, mới bảy tháng tuổi, nằm sát đất miệng niệm: “Nam Mô Cứu khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” liên hồi. Tôi cũng niệm Phật theo Bà Nội các cháu. Tiếng súng vẫn nổ vang phía trước nhà ngoài đường cái, tôi vẫn tiếp tục niệm Phật và cảm thấy an tâm vì có chồng tôi kế bên trong giờ phút này, rồi tôi ngủ quên lúc nào không hay.

     Sáng hẳn rồi tôi mới giật mình thức giấc vì tiếng ồn ào trước và sau nhà. Nghe tiếng chị hàng xóm la lên, tôi bước ra cửa, phía hông nhà tôi cạnh hông nhà chị, chỉ cách nhau hơn vài thước, tôi nhìn thấy một góc mái nhà chị bị sập, mới vỡ lẽ ra tiếng nổ lớn, khiến tôi khiếp vía ôm chặt bé Duyên vào lòng miệng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát rồi ngủ luôn lúc nào không hay, đã rơi ngay mái nhà chị. Rất may là không có ai bị thương vì cả gia đình chị đều chạy xuống nhà sau như chúng tôi vậy. Chồng tôi kéo tôi ra cửa sau, chỉ cho tôi thấy một xác người nằm sát rào sau nhà, tôi sợ quá đóng cửa thật lẹ không dám nhìn lâu.

     Khoảng gần trưa có tiếng gõ cửa, chúng tôi mở cửa, một anh quân nhân Mỹ mang súng dài tỏ ý muốn vào nhà kiểm soát, chồng tôi ân cần mời anh vào. Sau khi nói chuyện và thấy bộ quân phục cùng cái mũ máng trên tường của chồng tôi, anh quân nhân Mỹ yên trí bước ra, chồng tôi nói cảm ơn anh quân nhân Mỹ trẻ tuổi đã canh giữ cho chúng tôi được yên bình đêm qua. Tôi nhìn ra đường thấy còn nhiều quân nhân khác cũng đang thi hành nhiệm vụ như vậy. Lúc ra sau bếp chúng tôi không còn thấy cái xác người nằm sát rào sau nhà nữa, vậy mà tôi vẫn không dám mở cửa sau.

     Hết phép ông xã trở lại quân trường Thủ Đức. Kontum sau đó cũng trở lại bình thường. Tôi tiếp tục những công việc hằng ngày. Được tin anh rể của ông xã, Anh Bửu Tuân, sẽ lên làm việc tại bịnh viện Kontum tôi vô cùng vui mừng và tôi mời anh chị Tuân Liên vào ở chung nhà với chúng tôi. Vậy là mẹ chồng tôi có cô con gái ở cạnh thật không còn gì vui hơn.

     Một việc bất ngờ xảy đến với tôi vì bỗng dưng tôi bị đổi lên Dacto, một vùng xa xôi hẻo lánh và vô cùng nguy hiểm vì ở đó là nơi thường xảy ra những vụ xung đột lớn với Việt cộng. Tôi lên gặp Bác sĩ Trưởng ty để hỏi cho ra lẽ vì sao tôi bị đổi trong khi tôi làm việc rất tận tâm và không phạm một lỗi lầm nào cả, tôi muốn chắc chắn phải có một lý do chính đáng, chồng tôi đang ở quân trường tôi không thể đưa con tôi lên tận rừng sâu nước độc như vậy được. Ông trưởng ty trả lời quanh co không rõ ràng và ông gần như không nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi bỏ nhiệm sở đưa hai con về quê, gởi hai cháu cho ông Ngoại cùng các cậu mợ của hai đứa con thơ, tức tốc bay thẳng vào Sài gòn đến ngay Bộ y tế trình diện và xin được gặp ông Chánh văn phòng bộ Y Tế để trình bày mọi việc và xin Bộ cứu xét. Tôi có trình bày về tình hình an ninh tại địa phương Dacto, dân chúng đang kéo nhau chạy về thành phố lánh nạn, đâu có ai cần đến một Nữ Hộ Sinh làm gì, dầu sao đi nữa cũng đã có cô đỡ hương thôn người địa phương săn sóc cho một số dân cư nhỏ ở đó rồi, dân đang cần quân đội để bảo vệ họ. Và chồng tôi đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ông Chánh văn phòng ngồi nghe tôi trình bày một cách chăm chú, thỉnh thoảng hỏi tôi một vài câu để xét đoán sự việc rồi ghi chú vào một hồ sơ đang để trước mặt ông, có vẻ cảm động về hoàn cảnh hiện tại của tôi. Ông bảo tôi có thể trở về nhiệm sở và ở đó làm việc chứ không cần đi Dacto. Tôi từ chối vì không muốn làm việc dưới quyền ông Bác sĩ trưởng ty đó nữa. Ông nhìn tôi cười và nói ông hiểu và thông cảm cho tôi lắm. Ông hỏi thêm vài câu về các con tôi hiện tại như thế nào, tôi thành thật nói hết cho ông nghe, ông nghe xong bảo tôi: “Thôi bà về ngoài trung với các cháu, để đây tôi sẽ giải quyết cho bà”. Tôi cảm ơn ông Chánh văn phòng, đi ra mà nghe phơi phới nhẹ nhỏm trong lòng. Hôm sau ra chợ Bến Thành mua cho mỗi đứa con một bộ áo quần thật đẹp rồi trở về Hội An ngày hôm sau.

     Chồng tôi ở Quân Trường Thủ Đức ra, xin về phục vụ tại Hội An, Anh nhận nhiệm vụ đến trấn thủ ở Cẩm Nam dưới quyền chỉ huy của một Đại úy Đại đội trưởng. Có lần qua Cẩm Nam thăm chồng ở ngoài tiền đồn, tôi đi lang thang ngó đây ngó đó trên những đường hầm chung quanh, một anh lính thấy vậy gọi tôi rối rít: “Chị Hai ơi, xuống đi, coi chừng bị bắn sẽ ”, tôi quay lại thấy anh quân nhân, thường hay đi với chồng tôi mỗi khi Anh về thăm vợ con, đứng cạnh chồng tôi tay vẫy miệng cười. Vội vàng tôi tuân lệnh bước xuống ngay không dám chần chừ tự nhủ thầm: “sao mình ngu quá để chồng và bạn lo lắng, đáng lý mình phải biết chuyện đó mới đúng!”.

     Chồng tôi thường di chuyển vị trí chứ không ở hoài trấn giữ một nơi, có lần Anh đóng quân ở căn cứ địa đầu đi vào thành phố Hội An, một đêm nọ tôi nằm ngủ bỗng giật mình nghe súng nổ thật nhiều về hướng đó, tôi hồi hộp quá. Thì quả đúng nơi anh đóng quân bị Việt cộng tấn công, hai bên bắn nhau đến sáng, Anh và các quân nhân giữ được tiền đồn. Lúc anh về, bước vào nhà vứt “ba lô” vào một góc rồi anh nằm lăn ra giường. Tôi biết Anh đang rất mệt nên cố giữ im lặng. Một lúc khá lâu anh ngồi dậy kể lại chuyện bị tấn công đêm qua Việt cộng bị bắn chết khá nhiều, mà họ vẫn cứ tràn lên, hết lớp này đến lớp khác, đến sáng mới chịu rút lui, rồi các sĩ quan cao cấp trong chính quyền đến thăm ủy lạo và gắn huy chương. Sau trận đánh này anh có ba ngày phép ở nhà với vợ con. Anh cao như cây tre và ốm như con cò, trông thương quá. Tôi thật lo cho tánh mạng của chồng tôi ngoài chiến tuyến. Sau một thời gian ở ngoài tiền đồn đi hành quân tứ hướng ở Hội An, chồng tôi được chuyển về đơn vị không tác chiến tại tiểu khu Quảng Nam. Lúc bấy giờ tôi được sự vụ lệnh của bộ Y tế chuyển vào làm việc ở Tam Kỳ, tôi đi cùng chồng vào Tam Kỳ nhận nhiệm sở trong lúc tôi mang thai bé Hòa hơn năm tháng. Chúng tôi được hai vợ chồng người cháu gái của chồng tôi, Phương Khanh, cũng là bạn cùng khóa 5 Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, tiếp đón nồng hậu và Phương Khanh đã mở rộng vòng tay cho tôi ở trọ nhà Phương Khanh chờ đến ngày sanh.

     Tam Kỳ cũng thuộc tỉnh Quảng Nam, cách Hội An hơi xa nên tôi phải sống xa chồng con, chỉ về thăm gia đình vào mỗi cuối tuần. Theo lệnh cấp trên chồng tôi vào Sài gòn học về hành chánh tài chánh, khoảng ba tháng. Khóa học hành chánh chấm dứt, tôi ngỡ anh sẽ trở lại Hội An, nhưng không, Anh viết thư cho biết là Anh được đưa đến phục vụ tại Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu! Vậy là chúng tôi lại xa nhau nữa. Lúc chuyển dạ bé Hòa Anh Chị Mai Hụê đưa tôi vào Bảo Sanh Viện Hội An, vào buổi chiều nhưng đến tối mới sanh và cô Hồ Thị Bán, bạn cùng khóa 5, là người đỡ sanh cháu Hòa, ngày 04/08/1969, Cháu bé tí teo, cân chỉ được hai ký mốt bốn chục, cô Bán nói: “may mà Quế lên bàn sanh kịp chứ không thôi là sinh rớt rồi đó”. Phải nuôi cháu trong lồng kính, thấy cháu không khóc không bú tôi buồn quá nên khóc hoài. Chị Mai vào thăm khuyên không nên khóc, Chị nói:

           -“Em mới sanh mà khóc hoài không tốt đâu, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm thần nhiều lắm”. Tôi vừa khóc vừa nói:

          -“Em cũng biết vậy chứ, nhưng không làm sao ngăn được nước mắt, Bố cháu đang ở xa chị biết không, thương con quá đi thôi!

     Ba hôm sau “hắn” mới bắt đầu bú nhưng rất ít, rồi lại ngủ nữa, có khổ không chứ! hai bầu sữa bắt đầu căng rồi đó, phải đi mượn cái hút sữa chứ không thôi con không bú thì sữa cũng từ từ giảm dần rồi hết luôn thì làm sao đây. May quá đến hôm sau “hắn” bú lâu hơn, lúc đó tôi mới yên tâm đưa cháu về nhà.

Còn  tiếp,

                                                                                                                                 DTQT. 23/11/2018.
HOA 004
Quế và Bé Hòa ở bãi biển Vũng Tàu

GÁI ĐIẾM NHƯNG NÓ HƠN XA

Cùng Bạn Đọc,

     Nhận được câu chuyện này từ Anh Longkangaroo sáng nay, Dã-Thảo đọc nghe xúc động, nghe lo lắng trong lòng. Cái xã hội Việt Nam của chúng ta nó tệ hại, nó lũng đoạn đến như vậy sao? Lương tâm con người ở đâu mất rồi? Những ông Bác Sĩ, những cô y tá, những người được quí mến ngày xưa không còn nữa. Bây giờ không lẽ sau mấy chục năm bị nhồi sọ bởi cái “CNXHCS”, con người trở nên “dơ dáy, bẩn thỉu” đến vậy sao! Dã-Thảo thành thật xin lỗi các vị Bác sĩ, các cô y tá vẫn còn có tấm lòng nhân hậu thương yêu bịnh nhân, không phân biệt giàu nghèo, chỉ thấy việc cứu người là trên hết. Xin đừng cho là DT vơ đũa cả nắm. Dưới đây là câu chuyện không thấy để tên tác giả, cuối bài chỉ để hai chữ ST, không biết có phải là “Sưu Tầm” hay không! 

GÁI ĐIẾM NHƯNG NÓ HƠN XA CÁI THỨ CÓ ĐỊA VỊ XÃ HỘI MÀ VÔ CẢM!

     Trời bừng sáng sau cơn mưa đêm…Bầu không khí tươi mát ùa vào căn phòng trực cấp cứu của bệnh viện. Cô y tá trẻ mặc bộ blouse trắng nhận ca trực, cô vừa lật cuốn sổ ghi chép của ca trước vừa sửa lại bình hoa tươi trên bàn. Hai má cô ửng hồng, đôi mắt long lanh và làn môi xinh tươi như hoa hồng mới nở. Cách đó không xa, ông bác sĩ tuổi trung niên ngồi trước bàn làm việc của mình, mỉm cười nhìn dòng chữ “Thầy thuốc như mẹ hiền” uốn bằng đèn huỳnh quang màu đỏ tươi rực rỡ vừa mới sắm.

     Bỗng một chiếc xe gắn máy phóng thẳng tới cửa phòng cấp cứu. Gã lái xe mặt mày bặm trợn, ngồi sau là cô gái mặc mỗi chiếc áo nịt, phấn son nhòe nhoẹt. Cô ta đang ôm một thằng bé chừng mười tuổi được quấn trong cái áo khoác phụ nữ loang máu.

     Gã lái xe giật thằng bé trên tay cô gái rồi bồng vào trong phòng, nói với cô y tá:

   –Bác sĩ ơi cấp cứu!

Cô y tá rời mắt khỏi cuốn sổ:

  Sao vậy ?

   –Thằng bé bị tai nạn giao thông !

   –Anh là bố nó à ?

   – Không, tôi lái xe ôm

   –Thế còn cô kia ?

Cô y tá liếc mắt về phía cô gái ăn mặc hở hang đứng ngoài cửa rồi bĩu môi cau mặt. Nước mưa đã cuốn trôi lớp son phấn rẻ tiền trên mặt cô ta để lộ ra lớp da nhợt nhạt. “Trông chẳng khác gì gái điếm đứng đường mạt hạng. Vào nơi công cộng mà dám phô ra như thế à” – Cô y tá nghĩ.

     Quả thật cô gái mặc áo ngực ấy là một gái điếm nghèo, sáng sớm nay cô đang đi xe ôm của gã kia về phòng trọ thì gặp thằng bé bị tai nạn nằm ngất bên đường. Chiếc xe nào đã quẹt phải nó rồi bỏ chạy luôn. Thương hại, cô cởi áo khoác quấn cho thằng bé rồi cùng anh xe ôm đưa nó đến đây.

     Gã xe ôm bối rối liếc qua cô gái, ấp úng trả lời cô y tá:

   À! Cô này…

Cô y tá xinh đẹp không thèm nhìn hai người, cất giọng lạnh lùng:

   – Sang bên kia làm thủ tục nhập viện.

Gã xe ôm đặt thằng bé xuống thềm, rồi chạy sang dãy nhà đối diện. Người bảo vệ chỉ cho gã cái lỗ hình vuông bằng hai bàn tay trên tấm kính dày, chung quanh bịt lưới sắt. Gã khom lưng nhìn vào trong ô vuông đó, thấy gương mặt hồng hào của người nữ nhân viên ngồi sau chiếc bàn chất đầy sổ sách. Gã nhũn nhặn:

   – Chị ơi, cho tôi làm thủ tục nhập viện…

Người phụ nữ không ngẩng mặt lên, nói máy móc:

   – Tên gì? Hộ khẩu? Chứng minh nhân dân? …

   – Dạ…thằng nhỏ mà!…

   – Thằng nhỏ à? … Anh là gì của nó?

   – Tôi lái xe ôm…Thấy nó bị tai nạn nên chở tới đây.

  Rắc rối đây! Sao anh không gọi bố mẹ nó tới làm thủ tục nhập viện?

Gã xe ôm nói lắp bắp:

   – Tôi đâu biết bố mẹ nó…Với lại gấp quá! Cấp cứu mà!

   – Thôi được! Nộp tiền tạm ứng viện phí.

   – Bao nhiêu chị?

   – Hai triệu.

Gã xe ôm ngẩn ra, hắn biết trong túi mình có chưa tới hai trăm ngàn.

Gã móc hết tiền ra rồi nói với chị nhân viên:

   – Tôi chỉ có bi nhiêu…Chị làm ơn cho thằng bé nhập viện, rồi tôi sẽ tìm bố mẹ nó tới thanh toán.
   – Không được! Anh không biết bố mẹ nó thì làm sao mà tìm?

   Chị làm ơn…Thằng bé sắp chết !…

   – Đã bảo không được! Chị nhân viên gắt, cộc cằn máy móc: Bệnh viện đã quy định. Gã xe ôm đành chạy trở lại lại phòng cấp cứu, hỏi cô gái điếm:

   – Cô có tiền không?…

Cô gái khẽ quay đi, moi trong chiếc áo nịt ra mấy tờ bạc được xếp cuốn chặt rồi đưa cho anh xe ôm. Anh ta mở ra: Chưa tới trăm ngàn! …

   – Bi nhiêu nhằm nhò gì? Anh xe ôm lắc đầu cau mặt.

Mặt anh xe ôm xám ngắt, mắt đỏ ngầu, hai hàm răng nghiến chặt của anh ta như muốn nhai nát cái gì đó…Cô gái điếm nhìn bộ mặt cau có của anh ta mà phát sợ, nói như phân trần:

   – Đêm qua mưa…tôi không có khách…

     Thằng bé nằm dưới thềm kêu khóc thảm thiết. Nhìn nó thật thê thảm: Chiếc quần đùi rách tươm để lộ ra cẳng chân dập nát, da thịt chỗ đó bầy nhầy. Máu vẫn chảy từ vết thương chưa được băng bó. Da thằng bé bợt nhớt như con cá ươn, ngực thoi thóp và đôi mắt long lanh đảo nhìn mọi người như cầu cứu. Trong túi áo ngực của nó còn thò ra xấp vé số ướt nhẹp.

     Gã xe ôm nhìn thằng bé mà ứa nước mắt. Gã chợt quỳ mọp xuống trước mặt ông bác sĩ, hai tay cầm mấy tờ bạc cô gái điếm vừa đưa đội lên đầu:

   – Tôi lạy bác sĩ! Bác sĩ làm ơn cứu thằng bé! …

     Khuôn mặt đen sạm của gã xe ôm méo mó khổ sở. Ông bác sĩ ngoảnh mặt đi chỗ khác, nhịp nhịp chân phải… Gã xe ôm biết có quỳ xin cũng không được. Gã đứng dậy nói với cô gái điếm.

   – Thôi được! Cô trông thằng bé, để tôi đi cầm đỡ chiếc xe vậy.

Cô gái điếm lau nước mắt:

   – Hay anh…để em qua phòng bên kia…bán máu ?

Gã xe ôm nhìn lướt qua thân hình gầy gò của cô gái, lắc đầu:

   – Cô thì có bao nhiêu máu mà bán? Chưa chắc họ đã chịu mua…

Gã nói xong hấp tấp chạy ra cửa bệnh viện.

     Lúc ấy phòng cấp cứu tiếp nhận thêm mấy bệnh nhân: Một cô gái tự tử vì thất tình, một anh chàng say rượu bị trúng gió và một người đàn ông bị nhồi máu cơ tim, ông này được đưa tới bằng xe hơi Mercedes kèm hai Honda @ hộ tống. Người thân của ông nhà giàu đứng chật phòng cấp cứu. Bà vợ mập mạp của ông ta nhanh nhẹn dúi vào tay bác sĩ và cô y tá mỗi người một phong bao:

   – Tốn kém bao nhiêu cũng được, bác sĩ mau mau cứu sống chồng tôi.

Ông bác sĩ vội vã rời cái bàn như bị bắt vít từ sáng, cô y tá cuống quýt đẩy băng ca…Ông bệnh nhân “đại gia” được đưa thẳng vào phòng chăm sóc đặc biệt không cần qua thủ tục nào. Trong khi đó, thằng bé bị bỏ quên ngoài thềm cùng cô gái điếm.

… Ánh mặt trời rực rỡ chiếu xuống sân bệnh viện. Ba lá cờ phấp phới tung bay trên đỉnh cột thép không rỉ, trên cùng là cờ đảng, giữa lá cờ nước và dưới cùng là cờ bệnh viện với hình con rắn mổ cái cốc thủy tinh. Cuộc chào cờ buổi sáng thứ hai của cán bộ nhân viên bệnh viện vừa kết thúc. Người thân của những bệnh nhân nghèo kéo nhau tụ tập dưới chân cột cờ để nhận cơm, nhận cháo từ thiện của một sư bà mang tới.

     Đang múc cơm cháo cho mọi người, sư bà bỗng nghe tiếng kêu rên của thằng bé từ phòng cấp cứu vọng ra. Bà ngừng tay lắng nghe… tiếng kêu rên càng lúc càng rõ hơn… Bằng tâm thức của một người tu hành, sư bà thấu hiểu tiếng kêu tuyệt vọng của một sinh linh. Bà vội trao công việc phát cơm cháo cho người khác rồi chạy tới.

     Thằng bé đã kiệt sức, mắt nhắm nghiền…Cô gái điếm bất lực ngồi bên cạnh. Sư bà cúi sát xuống khuôn mặt trẻ thơ trắng bệt:

   – Nam mô A Di Đà Phật!…

     Thằng bé mở mắt nhìn bà sư, nước mắt nó ứa ra. Sư bà nhìn chiếc áo phụ nữ vấy máu, rồi liếc qua cô gái ốm yếu ăn mặc hở hang phong phanh…Bà hiểu ngay sự tình, liền quay lại chỗ phát cơm cháo từ thiện, nói với mọi người:

   – Thưa quý vị! Trong kia có một đứa trẻ đang hấp hối vì không có tiền nhập bệnh viện. Tôi biết quý vị ở đây cũng không giàu có gì…

     Sư bà chỉ nói được như vậy. Những người nghèo khó lại có trái tim nhạy cảm, họ hiểu ngay điều sư bà muốn nói và việc cần làm. Thế là chiếc vung nồi cháo từ thiện biến thành thùng công đức…

     Vừa lúc đó gã xe ôm trở về, mặt mướt mồ hôi. Gã đã cầm được chiếc xe gắn máy là cần câu cơm của gia đình, phải năn nỉ mãi mới được triệu rưỡi, cộng với số tiền của gã, của cô gái và lòng hảo tâm của nhiều người nghèo, may quá được hơn hai triệu! Đủ ứng tiền nhập viện cho thằng bé.

     Mọi người thở phào nhẹ nhõm, ngồi quây quần bên nhau ở góc sân chia nhau húp những bát cháo từ thiện.

     Bỗng cô y tá xăm xăm đi tới nói với gã xe ôm:

   – Thằng bé cần phải tiếp máu. Nhóm máu O…

   – Trời! Gã xe ôm thốt lên! Thẫn thờ đặt bát cháo đang húp dở xuống nền gạch…Bầu không khí như chết lặng trước tình huống bất ngờ. Cô gái điếm bỗng lên tiếng:   Máu O à? Tôi nhóm máu O!…Nói xong, cô nhanh chóng theo y tá vào phòng hiến máu. Gã xe ôm cũng vội vã bước theo…

     Nửa giờ sau gã xe ôm dìu cô gái điếm ra. Trên gương mặt nhợt nhạt của cô hé nở nụ cười.

(ST)

Chuyen cam dong

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp theo 2)

Cùng Bạn Đọc,

     Đây là phần tiếp theo thứ hai của “Chuyện Đời Tôi”. Như đã hứa trong bài trước Dã-Thảo cố gắng đưa bài hát “Kỷ Niệm” của Phạm Duy do Tống Mai gởi DT vào, để tặng lại các Bạn Đọc cùng nghe. Dã-Thảo copy thêm phần trên cho Các Bạn nghe trọn bài hát của Phạm Duy do Ca sĩ Thái Thanh trình bày. 

Cho tôi lại ngày nào 
Trăng lên bằng ngọn cau 
Me tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu hao 
Cha tôi ngồi xem báo; Phố xá vắng hiu hiu 
Trong đêm mùa khô ráo tôi nghe tiếng còi tàu 

Cho tôi lại chiều hè, tôi đi giữa đường quê 
Hai bên là hương lúa, xa xa là ngọn tre 
Thấp thoáng vài con nghé, 
Tiếng nước dưới chân đê 
Tôi mê trời mây tía không nghe mẹ gọi về 

Cho tôi lại nhà trường, bao nhiêu là người thương 
Không ai thù ai oán, ai cũng bảo tôi ngoan 
Tôi yêu thầy tôi lắm, nhớ tiếng nói vang vang 
Tôi theo tà áo trắng, cô em bạn cùng đường 

Cho tôi lại một mùa mưa rơi buồn ngoại ô 
Đêm đêm đèn trong ngõ soi sáng mảnh tim khô 
Tôi mơ thành triệu phú cứu vớt gái bơ vơ 
Tôi mơ thành thi sĩ đem thơ dệt mộng hờ 

Cho tôi lại còn nhiều cho tôi lại tình yêu
Tôi không đòi khôn khéo, tôi không đòi bao nhiêu
Cho tôi lòng non yếu dễ khóc dễ tin theo
Cho tôi thời niên thiếu cho tôi lại ngày đầu

Cho đi lại từ đầu chưa đi vội về sau
Xin đi từ thơ ấu đi vui và bên nhau
Trong tim thì sôi máu khóe mắt có trăng sao
Bông hoa cài trên áo, trên môi một nguyện cầu

Gởi Dã Thảo bài “Kỷ Niệm” của Phạm Duy:
https://phamduy.com/vi/album-mp3/P/33-pham-duy/716-100-tinh-khuc-cua-mot-doi-nguoi/8799-ky-niem-thai-thanh

Chuyện Đời Tôi (tiếp theo)

    Năm 1963, tôi và ba người bạn cùng khóa bị cảnh sát “mời” vì vận động tổ chức để sinh viên trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Huế đình công ủng hộ cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo. Chuyện là thế này:

     Trước ngày lễ Phật Đản hai ngày chính quyền cấm treo cờ Phật giáo, chỉ được treo ở chùa thôi chứ không được treo ở những nơi công cộng. Quý Thầy họp khẩn cấp tại chùa Từ Đàm để phản đối chính quyền. Ngày hôm sau 07/05/1963 có lệnh chính quyền hạ cờ Phật giáo, nhà ai có treo cờ cũng bị giật lấy xé và vứt xuống đất. 08/05/1963 (mồng tám tháng tư âm lịch) là ngày lễ Phật Đản, tôi đi chùa Diệu Đế. Tối đêm đó đi cùng với các bạn đến đài phát thanh Huế để nghe diễn văn mừng ngày Phật Đản của Thượng Tọa Thích Trí Quang ở Chùa Từ Đàm, được thu âm lại như thường lệ. Chờ hoài không nghe phát thanh bài diễn văn mà chỉ có nghe nhạc không thôi, đài phát thanh cho biết vì lý do kỷ thuật nên từ chối phát thanh bài diễn văn. Đến chín giờ tối người ta tụ tập rất đông ở đài phát thanh. Trong khi chính quyền đang cùng thầy Thích Trí Quang và một số các thầy khác đang thảo luận bên trong, tôi thấy binh lính và xe tăng bọc thép đang điều động đến đài phát thanh dùng vòi rồng giải tán đám đông. Bỗng có tiếng nổ lớn xảy ra trong khuôn viên đài phát thanh làm tình hình rối loạn. Xe tăng và lính bắt đầu nổ súng, chúng tôi bỏ chạy về nội trú, vì ký túc xá trường NHSQG không xa đài phát thanh lắm. Có bạn rủ đi chùa Từ Đàm nhưng nghe đâu đường lên Từ Đàm đã bị chặn lối không đi được. Thôi đành ở nhà chờ nghe tin tức nói gì vào ngày mai vậy. Tin tức cho biết sự việc xảy ra ở đài phát thanh tối vừa qua kéo dài đến mười hai giờ khuya mới vãn hồi. Chúng tôi được truyền tai nhau nghe là có nhiều người chết và bị thương nằm trong khuôn viên đài phát thanh. Xe cứu thương đến chở tất cả những người chết và bị thương đến bệnh viện. Đêm đó các lãnh đạo Phật Giáo họp khẩn cấp và lo cầu siêu cho các nạn nhân tại đài phát thanh. Sau đêm bị bắn và đàn áp ở đài phát thanh, tín đồ Phật Giáo Huế biểu tình tố cáo chính quyền tàn sát tín đồ. Chính quyền Ngô Đình Diệm “đổ thừa” là Cộng sản miền Bắc xúi dân biểu tình. Thượng Tọa Thích Trí Quang và Tỉnh Trưởng tỉnh Thừa Thiên kêu gọi Phật tử giải tán biểu tình. Cuộc tranh đấu của Phật Giáo bắt đầu sau lễ Phật Đản vào ngày 10/05/1963. Chính quyền bắt giam các vị lãnh đạo tinh thần Phật Giáo, quý thượng toạ và sinh viên tranh đấu.

     Công chúng ủng hộ cuộc đấu tranh chống kỳ thị Phật Giáo bằng cách đình công chợ búa, trường học, công ty xí nghiệp và công sở. Viện Trưởng viện Đại học bị cách chức vì ủng hộ phong trào Phật Giáo tranh đấu: Bất bạo động, Không chống chính phủ, Không kỳ thị Thiên Chúa Giáo, Tự do tín ngưỡng và Bình đẳng tôn giáo. Sau đó các trưởng khoa Y khoa, Luật khoa, Khoa Học Sư Phạm, Văn khoa, và rất nhiều giảng viên Đại học ra thông cáo từ chức. Phong trào bất hợp tác trở nên toàn diện tại Huế. Muốn đến chùa Từ Đàm rất khó khăn, vì thành phố ban hành lịnh giới nghiêm. Tôi và vài bạn cùng lớp đến bịnh viện thăm những Phật tử bị thương và một sinh viên bị công an mật vụ đánh đập thật tàn nhẩn. Thật là quá xúc động nên tôi trở lại trường đứng ra vận động các bạn họp lại, bàn định về việc Đình Công ở trường NHSQG, chúng tôi được các bạn hưởng ứng nhiệt liệt, và thành công. Chúng tôi không vào nhận phiên trực ngày hôm sau. Lẽ dĩ nhiên chỉ có sinh viên đình công thôi chứ nhân viên y tế vẫn làm việc như thường lệ. Sau ngày đình công một thời gian chúng tôi đang ngồi trong lớp chờ giờ học lý thuyết thì có hai Công an Mật vụ vào hỏi vài câu về việc ủng hộ phong trào đình công đấu tranh của Phật Giáo và hỏi ai là người có trách nhiệm trong việc này? Tôi đứng lên nhận ngay tôi là người đã đứng ra trước lớp nói chuyện “Chính quyền đàn áp đánh đập Phật tử”, và chúng tôi cùng đồng lòng về việc đình công. Họ “mời” tôi bước ra ngoài,  nhưng sau đó tôi thấy có chị Thạch Ngọc, An và Bán cũng ra theo. Vậy là bốn cô sinh viên được cho phép về phòng soạn một ít đồ dùng cần thiết và theo họ về Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế để tiện việc thẩm vấn. Thế là chúng tôi “Xộ khám”! Tôi thật sự không nhớ rõ ngày nào nhưng có lẽ vào khoảng giữa tháng 07 năm 1963.

     Vào đấy rồi mới thấy không phải chỉ có chúng tôi bị “mời”! Còn có rất nhiều sinh viên ở trường đại học Huế, một chị tiểu thương ở chợ Đông Ba cũng có mặt, hình như chị bị công an đánh thì phải vì chúng tôi thấy chân tay chị bị bầm nhiều chổ. Tôi và ba người bạn gái chưa bị tra hỏi gì cả, nhưng lúc mới đưa vào “họ” nhốt chúng tôi riêng biệt mỗi người vào một phòng giam nhỏ, không có cửa sổ, chỉ có một ô vuông, nhỏ hơn nửa trang giấy học trò, có song sắc thật chắc. Thỉnh thoảng tôi đưa mũi vào ô vuông để thở, tìm một chút thoáng khí chứ không thôi cảm thấy ngột ngạt quá. Buổi tối đèn điện vẫn để sáng trưng nên tôi không tài nào ngủ được. Hôm sau lúc trời gần tối “họ” đến mở phòng giam đưa tôi đi làm tờ khai, tôi thật sự khai hết những gì thấy được ở đài Phát Thanh…và buổi họp tại trường NHSQG mà tôi là người đứng ra nói chuyện đình công với các bạn. Thêm một ngày sau hai bạn tôi được chuyển đến giam chung với tôi, bạn Bán được trả lại tự do. Ba “cô” chụm lại mừng rỡ nên tối đến mãi nói chuyện quên cả ngủ, có muốn ngủ cũng không được vì đèn sáng quá. Mỗi tối chúng tôi đều bị kêu lên “Phỏng vấn”, riêng biệt mỗi đứa một phòng với một công an thẩm vấn khác nhau. Tôi thành thật khai rằng: vì quá xúc động khi thấy nhiều sinh viên tín đồ Phật giáo bị đánh đập tàn nhẫn chỉ vì niềm tin tôn giáo chứ ngoài ra không có ai xúi dục chúng tôi. Và lần nào tôi cũng khai như nhau. Thiệt tình tôi chán quá rồi, nhai đi nhai lại cũng chỉ muốn mình khai ra một vài tên việt cộng xúi dục đứng sau lưng để tóm thêm vài sinh viên nữa chứ có gì đâu. Nhưng tôi có theo Cộng sản đâu, tôi cũng không biết ai là cộng sản. Tôi có cái đầu và trong đó còn có cái não biết nhận thức nữa mà. Tôi còn có một trái tim chứa rất nhiều tình yêu của cái Gia Đình Nối Dài của tôi, một gia đình mà ai là người mới đến Hội-An cũng tưởng chúng tôi là anh em cùng một Mẹ, và nhờ cái tình thương bao la của Mẹ tôi đối với các anh và với tất cả mọi người trong gia đình khiến tôi trở thành một người lúc nào cũng chỉ muốn chia xẻ tình yêu cho mọi người. Và tôi là một Phật tử, rất là Phật tử, nên tôi học về tình yêu và thực tập tình yêu thật nhiều chứ chưa học ghét và thực tập ghét bao giờ.

     Cả ba bị giam vài hôm rồi được đưa ra một gian nhà thật rộng không có ngăn phòng ốc gì cả, cũng ở trong khu vực trại giam của Ty Cảnh Sát, được ở chung cùng các sinh viên, học sinh, tiểu thương và có một bác trai lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều, cũng bị đưa vào đó, tôi không đếm có bao nhiêu người chỉ biết là đông thôi. Chúng tôi chia khoảnh và trải chiếu để nằm, từng nhóm nam nữ tách riêng, được nói chuyện với nhau, tự do đi lại trong sân. Ăn uống có trại giam lo. Mỗi ngày chúng tôi thay phiên nhau lên văn phòng để cảnh sát hỏi cung từng người. Chúng tôi bị giữ lại trung tâm cảnh sát đó ba tháng không hề biết được tin tức ở ngoài thế nào mặc dầu các bạn có thân nhân đến thăm. Tôi không có thân nhân ở Huế nên không có ai thăm cả. Tôi cũng không thấy buồn hoặc lo lắng gì. Chính quyền và công an cảnh sát đã dò xét lý lịch của tất cả chúng tôi quá rõ và đều biết chúng tôi là những thành phần nào trong xã hội, không thuộc thành phần nguy hiểm chống chính phủ nhưng họ phải giam chúng tôi tập trung chúng tôi lại một chỗ có người canh gác theo dõi những hoạt của chúng tôi. Có một lần tôi không nhớ rõ lý do, chúng tôi được tập dược văn nghệ ca hát do một sinh viên trong trại giam điều khiển. Rồi một đêm nọ công an cho chúng tôi qua trình diễn văn nghệ để ủy lạo cho tù nhân bị giam ở Lao Thừa Phủ. Lẽ tất nhiên ngoài việc ca hát chúng tôi không được phép tiếp xúc với tù nhân. Tuy nhiên đối với tôi đêm đó thật là vui vì gần hai tháng chúng tôi chỉ “trụ” một chỗ không được đi ra ngoài, không biết tin tức gì ở ngoài hết. Chúng tôi chỉ biết nhìn trời nhìn đất đi tới đi lui trước sân trại tạm giam.

     Người ta trả tự do cho An trước, sau đó không lâu tôi và chị Thạch Ngọc cũng được gọi lên văn phòng và được báo tin lành là được trả lại tự do. Thật vô cùng vui mừng vì chúng tôi bị giam giữ đã ba tháng rồi. Tôi không về nội trú ngay mà theo chị Thạch Ngọc về nhà chị ở lại một đêm. Ở trại giam ngủ có đèn để sáng cả đêm, bây giờ về nhà ban đêm tắt hết đèn nên tối thui không ngủ được, hai chị em nằm chung cười khúc khích. Cuối cùng cả hai chúng tôi nghĩ ra cây đèn dầu, chị Ngọc bước xuống đi lấy đèn dầu quẹt que diêm đốt đèn lên, chị vặn hơi sáng một chút, vừa thấy ánh sáng là hai mí mắt tôi đã díu lại với nhau rồi, chị Ngọc cũng không khác gì tôi. Vậy là chúng tôi nằm bên nhau ngủ một hơi đến sáng không nhúc nhích rục rịch! Sáng ra hai chị em nhắc lại thời gian đầu vô trại giam đèn sáng quá ngủ không được, sau ba tháng ở tù được trả tự do lại ngủ cũng không được vì không có ánh sáng, rồi cười ha hả. Sau đó chúng tôi sửa soạn trở về nội trú và tiếp tục việc học như không có gì xảy ra. Các bạn cũng chỉ chào hỏi mừng tôi đã trở lại chứ không hỏi gì nhiều đến việc tại sao bị giam lâu như vậy? Riêng tôi vẫn theo dõi tình hình trên đài phát thanh, hình như đang có gì căng thẳng lắm đây, nhưng tôi không làm sao hiểu được vì sự kém cỏi hiểu biết về chính trị và cộng đồng xã hội của tôi lúc bấy giờ. Tiếp theo đó tất cả nhóm người bị giữ lại trong cùng căn phòng lớn ở ty Cảnh sát cũng được trả lại tự do.

     Một số sinh viên và học sinh tôi quen biết trong thời gian bị câu lưu, kéo đến thăm tôi, chúng tôi vui mừng gặp lại nhau. Cả bọn kéo nhau vào phòng khách của trường NHSQG, nói đủ thứ chuyện nhờ đó tôi biết thêm về nhiều sự thay đổi trong chính trường Việt Nam lúc bấy giờ. Trong khi chúng tôi bị câu lưu thì ở ngoài cuộc tranh đấu của Phật giáo vẫn tiếp tục, có một nữ học sinh đến chùa Xá Lợi chặt bàn tay chống chính quyền, có quý Thiền-sư, Ni-cô tự thiêu, chùa chiền bị cô lập không vào ra được.

     Cuộc tranh đấu xẩy ra ở khắp nơi. Rất đông người đến chùa Xá Lợi cầu siêu cho những người tự thiêu và sau đó ở lại tham gia tuyệt thực. Còn nhiều, còn rất nhiều mà tôi thật sự không nhớ nổi. Các cơ quan truyền tin, các báo chí Mỹ đăng tin đã xảy ra ở đài phát thanh và những biến chuyển đấu tranh của tín đồ Phật giáo tại Việt nam, báo chí ngoại quốc cho rằng sự kỳ thị tôn giáo và cai trị độc tài có thể có ảnh hưởng xấu đến chính phủ Mỹ. Quân đội Việt Nam do Đại Tướng Dương Văn Minh và các sỹ quan cao cấp tổ chức đảo chánh tại Sàigòn. Chính sự độc tài gia đình trị của hai ông Diệm Nhu đã đưa đến cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963.

     Ở thềm tầng cấp trước khu nội trú, tôi và hai cô bạn cùng khóa đang ngồi kháo nhau về tin đảo chánh ở Sàigòn hôm ngày 01/11/1963 và tiếp theo 02/11/63 là tin hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã bị bắn chết. Thành thật mà nói chúng tôi không thấy vui khi hay tin ông Diệm bị giết. Tôi nghĩ có thể ông Ngô Đình Diệm sở dĩ đối xử không công bằng với Phật giáo và không thấy những việc làm của ông là sai trái với lòng nhân đạo, vì bên cạnh ông có Ngô Đình Nhu là người nổi tiếng độc ác và là một con chiên cuồng tín thiên chúa giáo. Có những kẻ tham quyền cố vị vây quanh ông Nhu đã thi hành những điều thất nhân tâm. Tôi nhớ lúc tôi còn nhỏ, cuộc bầu cử tổng thống giữa ông Diệm và Quốc Trưởng Bảo Đại, tôi thấy mọi nơi chỉ vận động cho ông Diệm mà thôi. Hỏi ra thì biết là Đức Bảo Đại bị cấm không cho vận động. Đã vậy hình Quốc Trưởng còn bị dán xuống đường đi cho thiện hạ dẫm lên. Và chị dâu tôi đi bầu bị giữ lại vì chị bỏ vào phong bì hình màu xanh, Quốc trưởng Bảo Đại, còn hình màu đỏ, Ngô Đình Diệm chị cho vào giỏ rác. Chị không lưu ý lúc đó đã có người nhắc nhở câu: “Xanh Bỏ Giỏ Đỏ Bỏ Bì” hay sao đó! Chị dâu đầu của tôi là con gái ông Huyện Hường ở huyện Quảng Lăng thuộc tỉnh Quảng Nam, Chị thấy hình Đức Bảo Đại là Chị bầu liền chẳng cần suy nghĩ lôi thôi. Cuối cùng anh Hai tôi phải đến bảo lãnh Chị mới được ra về. Anh Hai tôi rầy, Chị trả lời: “Ai biết đâu tưởng muốn bầu ai thì bầu chớ! Vậy sao không lên làm tổng thống cho rồi, bầu chi cho mệt”. Ba tôi nói: “Con nói phải đó, chớ Ba thấy hình “Ngài” bị đạp lên như vậy thật Ba buồn lắm, Ba sợ ông Diệm có ngày phải trả cái nghiệp này đó con, ông được “Ngài” phong làm Thủ Tướng mà làm như thế này không khác gì cướp ngôi Vua. Giọng Ba tôi buồn như có nước mắt. Nay nghĩ cho cùng: Nợ có vay có trả. Trong trường hợp hai anh em ông Ngô Đình Diệm thì đó là “Quả Báo Nhãn Tiền” vay đời này trả đời này chẳng đợi đời sau.

     Và chính vào thời điểm này tôi làm bạn với một sinh viên đi cùng với các bạn đến thăm tôi tại nội trú của trường NHSQG Huế, Anh Nguyễn Dĩnh Kỳ. Sau này Anh là chồng tôi và là Bố của ba đứa con tôi. 

     Sau này nhờ ở Úc lâu năm tôi tìm hiểu thêm về nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa Miền Nam VN nên tôi mới thấy rõ chính sách trị dân của gia đình họ Ngô và nhất là những gì Ông Bà Ngô Đình Nhu đã làm và thúc đẩy sau lưng Ngô Đình Diệm, nên mới đưa đến việc đảo chánh năm 1963. Tôi không thông suốt về chính trị nên không dám nói nhiều, chỉ tìm cho biết những gì có dính líu đến ba tháng “Xộ Khám” của tôi thôi, mới lôi kéo hấp dẫn tôi đọc nhiều về việc đó.

Còn tiếp,

DTQT. 21/11/2018.

Rose trắng

CHUYỆN ĐỜI TÔI (Tiếp Theo)

Cùng Bạn Đọc,

     Sáng nay nhận được bài thơ “Kỷ Niệm” của Phạm Duy do Tống Mai sao lại gởi tặng Dã-Thảo, nên vội tìm trên net và, muốn nói với Tống Mai đây là lần đầu tiên DT nghe bài ca này. Thảo mời Các Bạn đọc tiếp “Chuyện Đời Tôi”. Dã-Thảo cảm ơn Tống Mai cùng các Bạn đã ghé thăm thường xuyên Vườn Hoa DT.

Thân mến,

DTQT.18/11/2018.

     Không lâu sau đó ruộng được bán đi, nhà không còn làm ruộng. Bầy bò được bán luôn vì chính phủ không cho phép nuôi bò trong thành phố nữa. Bán ruộng bán bò, Me lấy tiền đó mua nhà cho gia đình Anh Ba, và không bao lâu sau đó gia đình anh Bốn cũng muốn ra riêng nên Me sắm cho gia đình anh Bốn một căn nhà lớn, hai tầng, kế nhà Anh Ba. Hai căn nhà này nằm cạnh nhau mà lại ngay bên cạnh Chùa Cầu, có hai con khỉ và hai con chó ngồi canh bốn bề, người ta lại đặt trước mặt mỗi con một bình nhang nên mỗi lần đi ngang tôi sợ lắm đi thật nhanh không dám nhìn, miệng niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát!”.

     Gia đình các anh ra riêng hết, bấy giờ chỉ còn lại Ba Me, ba chị em chúng tôi cùng các gia nhân thôi. Rồi chúng tôi lớn lên, chị Mai ra Huế vào học Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia năm 1958, nhà rộng hai căn lại ít người nên lúc bấy giờ Me cho các nữ học sinh ở trọ. Các chị ở trên quê xuống học trường Diên Hồng, các chị ở Tam Kỳ ra học Trần Quý Cáp, cùng trường với tôi nên thật là vui. Có hai chị nữ y tá ở Tam Kỳ ra, làm việc tại bệnh viện Hội An cũng trọ ở nhà tôi. Đông thật đông và vui cũng thật vui. Tôi vẫn còn nhớ rõ tên các chị như in trong trí tôi, đó là Chị Hương học Trần Quý Cáp, Chị Bích, Chị Cúc làm ở bệnh viện Hội An, hai chị em Chị Huệ người chị học ở trường Diên Hồng, cô em tên Thảo học ở Trần Quý Cáp. Tôi nhớ chị Hương thường chạy lên sân vận động bắt bướm đem về ép vào sách còn tôi thì thích hái hoa phượng và các loài hoa dại và tìm kén bướm để nuôi, khi bướm xé kén chui ra đợi cánh bướm khô tôi thích thú đem ra vườn thả bay đi, thấy trò chơi của tôi cũng vui nên chị Hương không bắt bướm ép vào sách nữa. Năm 1961 tôi theo gót chị Mai đi thi tuyển và được chọn vào trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Huế nên được phép rời nhà đi học xa, phải ở nội trú ba năm, thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Tôi từ giã Hội An từ dạo ấy.

     Tôi bị thiếu hai tháng mới đúng mười tám tuổi, là tuổi thấp nhất để được vào học ngành này, nên phải làm đơn xin miễn tuổi. Từ nhỏ đến lúc rời nhà ra Huế tôi chưa bao giờ biết nấu nồi cơm, ấy vậy mà bây giờ mới tám giờ sáng tôi phải có mặt ở bệnh viện để đi “thực tập”! Eo ơi, đi làm giường trải ra sửa nệm, lau bụi bàn ghế giường tủ v…v…Chiều về trường học “lý thuyết ” với các thầy. Thầy Đặng Hóa Long là Bác sĩ Trưởng Khoa của trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Huế, dạy môn Sản khoa, Bác sĩ Khuyến dạy về bịnh lý tổng quát và khoa dục nhi, Bác sĩ Vận dạy về bịnh đàn bà, Dược sĩ Phòng hướng dẫn về thuốc và cách dùng các dược phẩm, còn có một Nữ Giáo Sư dạy Anh văn mà tôi không nhớ rõ tên, nhưng tôi sẽ tìm ra chứ chưa đầu hàng. Nối liền với lớp học là Văn Phòng Điều Hành của trường. Nằm giữa lớp học và ngôi nhà nội trú của sinh viên là một phòng khách nhỏ dành riêng cho sinh viên tiếp đón thân nhân và bạn hữu đến thăm.

     Nội trú là một biệt thự hai tầng, mỗi tầng có ba phòng ngủ, phòng tắm và phòng vệ sinh, đầy đủ tiện nghi điện nước. Có phòng ăn cách chỉ một hành lang ngắn nối liền là nhà bếp, do vợ chồng bác Pháo, thầu nấu cơm cho sinh viên điều hành. Chúng tôi được hai bà “Soeur” săn sóc về an sinh và, hai chị lao công lo phần dọn dẹp sạch sẽ phòng. Áo quần thay ra tôi có thể nhờ chị lao công giặt giũ, kèm theo một số thù lao vừa đúng công tâm để chị vui lòng giúp đỡ tôi trong lúc tôi bận rộn với công việc học hành hoàn toàn khác lạ này.

     Hai cô bạn gái, Minh Loan và Kim Loan, thường hay đến nội trú thăm tôi vì cả hai đều ra Huế học. Lúc còn ở Hội An tuy không học cùng lớp nhưng tôi thân với cả hai vì lẽ giản dị Minh Loan và tôi ở trong ban vũ của trường, trong vũ điệu “Mơ Khúc Tương Phùng”, Minh Loan mặc đồ giả trai, tôi làm con gái thành một cặp nên Minh Loan hay ghé nhà ngồi trước tầng cấp hát nghêu ngao trước khi kéo nhau đến trường tập vũ do anh Dừng hướng dẫn. Còn Kim Loan là cô bạn ở cùng đường Phan Bội Châu, tôi thường hay đến nhà Kim Loan vào những lúc rãnh rỗi để nói chuyện và trao đổi sách vở văn thơ của các nhà thơ nhà văn mà chúng tôi đang theo học lúc bấy giờ. Tôi còn tìm chép những bài thơ nổi tiếng của TTKH, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Nguyên Sa, vào những tờ “pelure” xanh tím hồng ngà, nén nót từng chữ cho thật đẹp, trong thời thiếu nữ của tôi, xách tập thơ chạy như bướm lượn khoe hết Loan này đến Loan kia rồi Lài rồi Diệu rồi Cháu rồi Minh, không biết mệt! Vậy đó, lúc tôi vào nội trú ở Huế tôi chỉ còn hai cô bạn Minh Loan và Kim Loan thỉnh thoảng đến nội trú thăm tôi, thương ghê! Tôi với Minh Loan hai đứa nằm chèo queo trên chiếc giường sắt tầng dưới không biết nói chuyện chi mà nói mãi tới chiều Minh Loan mới rời phòng đạp xe ra về.

     Giáng sinh năm đó Kim Loan đến thăm mang theo hai gói đậu phụng rang, còn nóng, rủ tôi đi lễ nửa đêm, Soeur Félicité cho đi mà dặn về sớm, đã nói lễ nửa đêm mà bảo về sớm! Tôi kéo Kim Loan chạy ra cổng để hắn khỏi đứng đó đôi co chuyện sớm trễ với bà!

     Theo ngành này trước hết chúng tôi phải thực tập ở các phòng bệnh, những kiến thức đã học về cách săn sóc bịnh nhân căn bản phải được đem ra ứng dụng hết, chỉ vài tháng thôi, đã ngán chưa! Sau đó mới về thực tập ở phòng Hộ Sinh.

     Tôi còn nhớ lúc mới vào đi xem Phòng Sanh, lần đầu tiên nhìn sản phụ sanh em bé nghe sản phụ hét to vì đau đớn, tôi thất kinh hồn vía, lén ra ngoài ngồi một góc ở văn phòng trực của Phòng Sanh, mặt tái xanh vì sợ. BS Chước nhìn tôi rồi bảo: “cô này trẻ quá học chi cái ngành này, cực lắm, về đi học tiếp đi”! Tôi không biết Bác sĩ nói đùa hay nói thật nhưng tôi phải công nhận là thầy nói rất đúng. Chúng tôi chỉ được nhìn các chị khóa trước đỡ sanh chứ chưa ai cho “thực tập” đâu, vậy mà đã khiếp rồi. Chúng tôi chỉ được tắm em bé sơ sinh ở phòng hậu sản mà thôi. Eo ơi lần đầu tiên ẵm em bé tí teo như con búp bế, run quá, cứ lo sợ làm rớt em! Tắm em xong sau đó là theo Thầy đi thăm các bà mẹ mới sanh nằm ở phòng hậu sản, Thầy giảng đến đâu phải ghi tới đó, và phải nhớ để khi Thầy hỏi phải trả lời cho đúng không thôi mắc cở chết! Có Bà Thanh Liêu Giám Học và cũng là Huấn Luyện Viên hướng dẫn chúng tôi trong thời gian thực tập lúc theo thầy đi thăm bịnh nhân trong những tuần lễ đầu.     

     Lên năm thứ hai là được đi “thực tập” thật sự. Là được các chị khóa trước cho phụ các chị, để chị vừa đưa em bé ra vừa cắt nghĩa phải nắm cổ và cầm chân em như thế nào cho em không bị tuộc khỏi tay vì em bé vừa rời khỏi bụng mẹ là trơn nhớt vô cùng. Rồi chị bảo cầm lấy cuốn rốn vuốt cho máu chảy thêm vào cơ thể em, xem mạch máu hết nhảy, mới dùng ngón tay dồn máu qua hai bên kẹp bằng hai cái “kềm ” nhỏ, rồi cắt ở đoạn không có máu, chứ không thôi máu sẽ văng vào mặt đó! Thật kỳ diệu khi mới chạm vào em bé tôi có một cảm giác thích thú vô cùng hồi hộp chứ không còn sợ hãi nữa. Mà lạ chưa kìa sao tôi “Giỏi” quá vậy? Mười bảy tuổi không biết nấu nồi cơm, mà bây giờ tắm em bé mới sanh lại làm được! Ấy mà chưa hết đâu, lo cho mẹ tròn con vuông rồi sau đó là phải dọn dẹp, rửa dụng cụ thật sạch, xếp gọn gàng đâu vào đó. Sản phụ vẫn còn nằm tại phòng sanh để tôi theo dõi sức khỏe, còn chị khóa trước lo làm hồ sơ cho sản phụ. Phải thật yên bình vô sự rồi mới được đưa sản phụ đến phòng hậu sản. Tôi ẵm em vào lòng đi theo xe chuyển sản phụ, lòng thích thú vô cùng. Thật lạ quá! Vui quá là vui, tự nhủ lòng: “Hôm nào về thăm nhà phải kể cho Me nghe cái cảm giác thú vị này mới được”.

                                                                *****

     Tôi đang học giữa năm thứ hai, bỗng một hôm nhận được điện tín nhà báo tin chẳng lành. Me tôi lâm trọng bịnh mà tôi không hề được cho hay, vì các anh và chị tôi không muốn tôi lo lắng, để cho tôi học hành! Mãi đến lúc bịnh Me trở nặng Anh Hai mới đánh điện tín: “Me đau nặng em về gấp”, thì muộn rồi. Tôi bước vào nhà thấy vắng tanh, lạnh ngắt, có một người nào đó bảo tôi là Me đã được đưa ra Bệnh Viện Duy Tân ở Đà Nẵng. Vậy là tôi quay ngược ra Đà Nẵng ngay, không chần chờ. Me bị xuất huyết não do chứng huyết áp cao, tôi về Me đã hôn mê. Dì Năm ngồi bên cạnh Me thấy tôi bước vào Dì nói: “Phải chi con về sớm một chút, Me mới tỉnh lại lúc nãy có hỏi Dì: con Quế về chưa?” Tôi chỉ biết ôm lấy Me rồi khóc, thưa với Dì: “Phải chi có ai cho con biết Me nằm ở đây thì con đã không về thẳng Hội An, làm mất đi cả tiếng đồng hồ, không được gặp Me”. Me tôi nằm yên bất động trên giường, hơi thở nhẹ, tôi cầm tay Me bắt mạch, thấy Me yếu lắm. Cả một đời tận tụy làm lụng nuôi con chồng và con của chính mình, bây giờ nằm xuống ở một bệnh viện xa xôi như thế này chẳng thấy ai ngoài Dì Năm và chị giúp việc đứng quanh bên cạnh giường Me, còn tôi thì vừa ở xa được tin mới gấp rút chạy về. Các Anh Chị ở trong Hội-An bận đi làm, các Chị Dâu bận gia đình đông con. Ba tôi cũng yếu đuối bịnh hoạn nên Dì Năm thay Ba ở lại với Me trong bệnh viện. Bây giờ tôi mới thấy Me thật là cô đơn. Hình như Me cô đơn tự hồi nào đến giờ, nhưng Me cho đó là chuyện tự nhiên, hay vì tôi quá vô tình không biết chia xẻ mà chỉ biết làm phiền Me thôi. Khuya ngày hôm sau Me bỏ chúng tôi ra đi không một lần lai tỉnh. Chỉ có tôi, đứa con gái sống xa nhà được Me cho phép ôm cái thân thể còn ấm áp của Me khi Me trút hơi thở cuối cùng. Con cảm ơn Me phút cuối cùng màu nhiệm lúc con về đến nhà mình ở Hội-An thì trong tâm thức chắc Me đã biết nên mới tỉnh dậy hỏi: “con Quế về chưa?” Đến gần sáng, nhân viên đến đưa Me ra nhà “Xác”. Đến lúc đó không biết tại sao tôi có một cảm giác rất lạ lùng, hình như phải nói là tôi đang sợ cái xác của chính Me tôi, thân hình mà tôi vừa mới ôm và khóc không lâu trước đó, giờ Me lạnh như nước đá và tôi biết đó không còn là Me tôi nữa, Người đã đi rồi và vì không phải là Me nằm đó nên tôi mới sợ vì thấy mình bất lực không biết Me đang ở đâu mà tìm, và tìm bằng cách nào đây? Năm đó Me năm mươi ba tuổi, còn trẻ lắm, tôi mười chín và em Kiến mới mười ba. Sáng hôm đó Anh Hai đưa xe ra Đà-Nẵng đem Me về nhà ở Hội An. Các Anh Các Chị, bà con hàng xóm đến thăm thật đông. Ôi mất Mẹ sao buồn và đau đớn quá! Con ngồi ăn, nuốt cơm như nuốt sạn vậy Me ơi! Lúc liệm Me, Ba muốn xếp hết y phục của Me theo vào quan tài nhưng tôi không bằng lòng, tôi xin Ba cho tôi được giữ lại rồi tính sau. Ngày chôn Me nhìn em Kiến mang bát nhang đi trước quan tài Me mà đau thắt cả lòng. Rồi cũng qua đi những ngày buồn não ruột của gia đình tôi. Tôi soạn hết áo quần của Me, tặng cho bác bạn nghèo của Me…chỉ giữ lại cho mình một tấm chăn mỏng mà Me đã dùng hôm vào bệnh viện, vì mùi thơm của Me vẫn còn nên tôi ôm lấy giữ lại và không muốn giặt sợ bị mất đi mùi thơm lạ lùng đó. Cứ để vậy tối ngủ là tôi ôm chặc lấy cái chăn. Khi sửa soạn trở lại Huế tôi muốn đem theo tấm chăn nhưng Ba không cho, Ba khuyên tôi không nên làm như thế vì có hại cho sức khỏe và tinh thần của tôi, Ba nói sẽ giặt đi và giữ lại chứ không cho ai hết để mỗi khi về thăm nhà tôi sẽ có chăn của me mà đắp. Thấy Ba không bằng lòng nên tôi đành để lại. Nhưng mùi hương kỳ lạ của Me thì thật vẫn cứ còn theo tôi mãi mãi không bao giờ phai.

     Me mất đi là nhà vắng vô cùng, gia nhân nghỉ hết, Ba tôi chỉ giữ lại một người trai trẻ, là anh Cang, để săn sóc cho Ba và em tôi mà thôi.

     Trở lại nội trú tôi buồn quá nên chưa vào lớp ngay hôm đó. Cô Thanh Liêu và các bạn đến thăm. Tôi nằm yên và nước mắt cứ tha hồ chảy, Cô Thanh Liêu ngồi xuống cạnh giường, đặt tay trên lưng tôi để an ủi và tất cả đều yên lặng…Như thế một lúc lâu và thật cảm động. Rồi Cô vừa đứng lên vừa nói trong lúc bàn tay Cô vẫn còn trên lưng tôi: “Thôi em nằm nghỉ, ráng lên nghe em! Tôi “Dạ” nhỏ cảm ơn Cô và các bạn. Chỉ có vậy thôi mà sao bây giờ mỗi lần nhớ lại là cứ nhớ đến bàn tay an ủi của Cô Thanh Liêu ngày nào! Còn lại một mình trong căn phòng nội trú của bốn đứa (Tôi, Kim Thanh, Dung, Thanh Tâm). Tôi nằm yên bất động với  một hình ảnh độc nhất trong trí đó là Me tôi mới mất tuần qua mà nghe đau thắt toàn thân, tôi thấy mình bất lực và thấy mình hình như có tội với Me vì đã không ở gần Me để săn sóc Me trong lúc Me đau yếu. Tôi thấy mình ân hận rất nhiều, đủ thứ, kể cả những lúc tôi còn bé, quá nhõng nhẻo quá chướng tánh làm mất lòng Me. Sao lúc bấy giờ tôi thấy cái gì ở tôi cũng sai quấy cả vậy? Mà tìm Me ở đâu bây giờ để nói lời tạ tội đây? Làm sao bây giờ? Muộn quá rồi, muộn lắm rồi, hết rồi, chấm dứt rồi. Tôi phải dùng hết sức mạnh tinh thần để vượt qua những lúc vô cùng trống rỗng giống như muốn đi tìm Me.

     Phải nói các bạn cùng phòng thật dễ thương “Ba Đứa Hắn, Thanh Dung Tâm” chăm học lắm và lúc nào cũng kể chuyện xảy ra trong các phiên trực cho tôi nghe, chọc phá cho tôi cười vì thế tôi cũng cảm thấy được khuây khỏa nhiều. Tôi cố gắng lo học cho xong khóa vì đó là điều mà Me tôi mong muốn cho tôi có một cái nghề vững chắc để khỏi phải rơi vào tình trạng không có việc làm sau này. Hồi còn Me, mỗi khi tôi về thăm nhà và kể lại với Me đủ thứ chuyện, tôi thường hay nói: “Nghề này cực lắm Me ơi! Nếu có bịnh nặng hoặc bị băng huyết nhiều, con lo, thì tim con đập loạn lên thiệt mạnh như muốn lọt ra ngoài vậy đó! Ba Me nghe vậy cứ tưởng tôi không muốn tiếp tục học nên thường hay khuyên tôi “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” đó con, cố gắng lên con à đừng nản chí. Còn Me tôi nói “đây là nghề mà Me thích nhất ”. Chỉ nhớ lại một câu đó của Me thôi cũng đủ sức thúc đẩy tôi trong việc học rồi. Bên cạnh đó có các bạn, và Cô Thanh Liêu, không nói nhiều nhưng Cô nói đủ với câu: “Ráng lên nghe em” thật dịu dàng và cảm động.

     Trong giấc ngủ tôi thường mơ thấy Me về thăm, hình như mỗi tối thì đúng hơn. Và cứ thế kéo dài cho đến hai năm sau lúc tôi lập gia đình, và một năm sau lúc có bé Phước Duyên thì tôi mới không còn nằm mơ thấy Me về nữa. Mãi đến năm 1992…lúc tôi và các con cháu ở mãi tận phương trời xa, Me lại về thăm tôi trong giấc mơ…Đó là năm tôi gặp người bạn không cùng chủng tộc.

                                                                                                                                         Còn tiếp,

                                                                                                                          DTQT. 18/11/2018.


Wally

Duyên  là  người  chụp hình này  nên không có mặt.

Từ bên trái >Hòa, Wally, Quế, Nghị.

TỈ LỆ ỦNG HỘ TT TRUMP TĂNG VỌT.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo xin được thay thế đề tài Âm Mưu Ám Sát Tổng Thống Trump bằng một đề tài khác, video của cô Phương Thanh bị youtube lấy xuống nên các Bạn không xem được vì thế cho nên Dã-Thảo đành phải xóa tất cả file này vậy. Thành thật xin lỗi các Bạn. Thảo sẽ đưa xuống từ trên net một video ủng hộ TT Trump thay cho file này mời Bạn đón nghe.

Thân mến,

DTQT 13/08/2019.

hoa lan 27

CHUYỆN ĐỜI TÔI.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo viết chuyện đời mình, dự định khi nào xong sẽ post lên chia xẻ cùng các Bạn, nhưng viết hoài mà chưa hết. Vả lại hình như mình càng già chữ nghĩa cũng già đi hay sao ấy, cứ quên đầu quên đuôi. Bây giờ Dã-Thảo phải có quyển tự điển bên cạnh để xem lại dấu hỏi dấu ngã mới khỏi viết trật dấu chính tả đó, các Bạn có tin không? Dã-Thảo suy nghĩ hay mình cứ post lên đi chứ không thôi nhỡ có gì thì sao! Hôm nay DT mới nhận được một cái thư của Bộ Giao Thông bắt Thảo phải đi khám tổng quát sức khỏe để xem thử DT có thể còn lái xe được không. Họ nói mình sắp lên 75 tuổi rồi…muốn lái xe là  phải “Xin” Bác sĩ mỗi năm…Vì thế cho nên DT post phần mở đầu “Chuyện Đời Tôi” để kỷ niệm ngày Bộ Giao Thông nhắc DT sắp bước hai chân xuống…mồ rồi. Mời Các Bạn đọc câu chuyện hôm nay của Dã-Thảo. Chúc Các Bạn một ngày vui.

Thân mến,

DTQT. 12/11/2018. 

Chuyện Đời Tôi.

     Tôi sinh ra trong một gia đình trung lưu và lớn lên tại thành phố Hội An thuộc quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Ba tôi làm nghề thầy thuốc bắc, Người đắc cử Hội Đồng Hương Chính làng Cẩm Phô, Hội An. Trong làng thường gọi ba tôi là Ông Hương, có người còn gọi là Ông Chánh vì ngày xưa có thời Ba làm Chánh Tổng. Ngày đó tôi chưa ra đời, tôi biết vậy vì chuyện được Dì Năm tôi kể rằng: “Có The house for sale 1999 002người hàng xóm lấn đất nhà ông Ngoại, chuyện kiện tụng lôi thôi đưa đến hàng Tổng nên Ông Chánh phải cho người “Đạc Điền” đến tận nơi đo lại ruộng đất cho đôi bên. Ông Ngoại thắng kiện mà không bị tốn kém gì cả vì thế cho nên Ông Chánh được ông Ngoại rất trân trọng và vô cùng quý mến. Ông Chánh góa vợ và có ba người con trai, nhỏ nhất lên tám, lớn nhất mới mười ba. Gia đình Ông Chánh sống rất đạm bạc vì ông một mình phải lo cho một người Cô già và ba người con còn đi học.
     Ông Ngoại có một người con gái góa chồng, còn trẻ, chưa có con, bà thường đi chợ ngang nhà Ông Chánh. Thấy người phụ nữ còn rất trẻ mặc tang phục đi ngang nhà, Ông Chánh ngạc nhiên vì không biết người phụ nữ trẻ kia “con cái” nhà ai? mà để tang cho ai vậy kìa? Hỏi ra mới biết là con gái Ông Trưởng Hoanh, là người được thắng trong vụ kiện tụng đất đai năm nào, đang để tang cho chồng. Ông Chánh để ý rồi mấy năm sau đi cùng người con trai lớn đến thăm Ông Trưởng Hoanh xin cưới người góa phụ trẻ kia làm vợ Chánh Thức cho ông. Người đàn bà trẻ đó về sau là Mẹ tôi, là Kế Mẫu của các anh tôi. Tất cả chúng tôi đều gọi Người bằng Dì. Me tôi làm dâu Bà Cô, nghe chừng cũng khó lắm, nhưng dì Năm nói: “Me bây” vượt qua được hết, “Me bây” chịu khó lắm, làm dâu, làm mẹ kế, rồi làm mẹ. Chỉ tội cho “Me bây” là sinh ba đứa con đầu, nuôi chẳng được bao lâu thì bị bịnh rồi chết lần hết. “Me bây” buồn lắm vì thế cho nên khi Me sinh Mai rồi Quế, Me gọi hai đứa bằng hai cái tên thật xấu là “Lỳ và Lợm” để khỏi bị thần chết bắt đi”. Vậy đó mà hai chị em chúng tôi cũng bị đau lên bịnh xuống như mọi trẻ con khác chứ có tránh đâu cho khỏi được. Nhưng có lẽ nhờ Me dán lên trán mỗi đứa một cái “Bùa Tên Tuyệt Xấu” cho nên tử thần ngán quá không dám bắt đi. Rồi chúng tôi trải qua không biết bao nhiêu là thử thách khó khăn trong đời, hai chị em tôi vẫn nhẫn nại cố gắng vượt qua và “Mai Lỳ Quế Lợm” còn sống khỏe đến bây giờ.
     Lúc lên Trung học tôi gọi Người là Me, chứ không gọi là Dì nữa, vì thấy các bạn không có ai gọi Mẹ bằng Dì như mình hết. Và các anh cũng theo tôi gọi Người bằng Me. Tôi có các cháu, con các anh, gọi mình bằng cô, xưng con ngọt xớt mặc dầu các cháu cùng tuổi với tôi, dễ thương chưa!

     Tôi còn có những người cháu trai con của một người chị, là dưỡng nữ của Ba Me, cũng theo cung cách đó xưng hô với tôi, các anh này lớn hơn tôi cả năm hay sáu tuổi chứ không ít đâu! Lạ quá. Chị có một người con trai bằng tuổi tôi, cao hơn tôi cả cái đầu học cùng năm, cùng trường nhưng ngồi khác lớp, cũng gọi tôi bằng cô và xưng con ngon lành, đó là Huỳnh Cần.
     Sỡ dĩ có Huỳnh Cần trong câu chuyện này của tôi vì có một thời trẻ dại mà tôi muốn kể ra đây hầu quý vị. Lúc bấy giờ tôi còn học ở tiểu học, Huỳnh Cần và tôi thường chơi trò bắn bi và búng dây thun với Mãnh, anh của Đoan bạn học cùng lớp với tôi, con Ông Huyện L. ở căn nhà hai tầng thật rộng, gần cuối dãy bên kia đường Phan Bội Châu, Mãnh búng thun rất giỏi. Có lần được Me mới mua cho trăm sợi dây thun, xanh đỏ tím vàng, thật đẹp, tôi ký ca ký củm thắt lại thành một sợi dài nối nhau thật dễ thương. Huỳnh Cần nói: “cô với con qua chơi búng thun với “thằng” Mãnh, thắng được con với cô để chung lại cho nhiều”. Nghe thích quá, vậy là “ừ” liền. Ai ngờ chỉ một hồi búng qua búng lại Huỳnh Cần và tôi thua hết chẳng còn sợi nào. Tôi oà khóc đòi lại, “thằng” Mãnh chẳng chịu trả, tôi khóc to hơn Huỳnh Cần hết hồn dẫn tôi về nói với Bà, tức là Me tôi đó, Me nói: “để Me mua thun khác cho”, tôi không chịu, nhất định phải là những sợi xanh đỏ tím vàng kia mà thôi, những sợi thun khác không phải của tôi. Vậy là cứ khóc, Me dỗ hoài không được, cuối cùng Me dẫn qua trước nhà “thằng” Mãnh xin: “Thôi con cho lại Em đi rồi bà mua cái khác cho con”. Ông Mãnh nhăn nhó lắc đầu. Huỳnh Cần phải năn nỉ giùm “Ông” Mãnh mới chịu vùng vằng trả lại, miệng chùng bùng nói: “ăn gian, bữa sau không thèm cho chơi thun nữa”. Bây giờ viết lại mà thấy thương Huỳnh Cần và Mãnh làm sao! nhất là Huỳnh Cần không còn nữa vì cháu bị Việt Cộng bắt cóc và thảm sát trước năm 1975. Còn “Ông” Mãnh thì tôi chưa gặp lại bao giờ, kể từ khi gia đình Mãnh dọn ra Huế thuở nào. Cũng phải là gần sáu mươi năm rồi, hơn nửa đời người chứ có ít đâu! Có một lần đọc chuyện của Vương Mộng Long thấy tác giả có nhắc đến một người bạn tên Mãnh, không biết có phải đó là Mãnh búng thun thật giỏi của một thời trẻ con, khờ dại của tôi hay không?
     Me tôi làm Kế Mẫu cho các anh và theo nghề buôn bán của Người Mẹ trước, nên Me cũng có một thớt hàng bán thịt ở chợ Hội An. Ông Ngoại hướng dẫn Me thêm nghề chăn nuôi và làm ruộng, để tăng thêm lợi tức cho gia đình. Ông mướn người làm ruộng, và hướng dẫn Ba tôi săn sóc ruộng nương. Làm ruộng thì phải có trâu bò để cày vì thế Ba tôi phải nuôi bò, nuôi bò phải có người chăn bò! Vậy là có thêm anh Thông, em trai anh Tống, ở vùng quê đến giúp, lùa bò ra đồng ăn cỏ. Gia đình lần hồi làm ăn khá giả ra. Bầy bò sinh sôi nẩy nở vì thế phải mướn thêm anh Cang để cùng chung sức với anh Thông chăm sóc đàn bò. Sau nhà có đất rộng nên chú Sáu được mướn để trồng bắp, trồng đậu, trồng khoai, trồng cà; còn anh Tống, một người trai trẻ khỏe mạnh lo việc gánh hàng lên chợ cho Me và trông nom buổi chợ sáng; có chị Liên miệng lúc nào cũng cười vui vẻ, lo việc cơm nước cho cả nhà. Khi tôi lớn lên thì đã thấy nhà đông người lắm, các anh tôi đều lập gia đình và vẫn ở chung với Ba Me. Gia đình thật là hạnh phúc đầm ấm. Tôi còn nhỏ quá nên không hiểu những chuyện đã xảy ra chung quanh mình nhiều lắm. Chỉ đến khi lớn lên tôi mới biết là chúng tôi và các anh tôi không cùng một mẹ. Chị em tôi có Vú Lào và một chị còn rất trẻ và cũng là cháu gọi Me tôi bằng Cô, săn sóc chúng tôi, Hường là tên chị. Sau này chị lập gia đình với anh Tống, anh gia nhân rất đắc lực trong công việc làm ăn của Ba Me. Me lo giúp cho anh chị cất một căn nhà, mái lợp bằng tranh thiệt dễ thương. Tôi thường ghé đến ngôi nhà lá đó thăm anh chị vào buổi chiều. Một chuyện thật buồn đã xảy ra cho hai vợ chồng mới cưới nhau chưa tròn một năm. Chị Hường về quê thăm gia đình ở phía bên kia sông, vùng có nhiều Việt Minh chiếm và thường hay xuất hiện vào ban đêm để quấy rầy dân chúng, bị bọn họ bắt sống, và buộc tội chị làm “Gián Điệp” cho Tây. Trong khi Chị chẳng có làm gì nên tội, chỉ có một tội là lấy chồng ở “Vùng Bị Chiếm”. Anh Tống chờ đợi hoài không thấy chị được tha trở về nên anh xin đi vào quân đội, anh nói để có cơ hội trả thù cho vợ. Anh Thông lên thay anh phụ việc cho Me. Anh Hoặc, một người ốm nhom như con cò hương vào thế anh Thông chăm sóc đàn bò. Có lần tôi thấy anh Tống mặc quân phục lái xe Jeep đến thăm Ba Me, anh vẫn chưa lập gia đình khác. Và đó là lần sau cùng tôi gặp anh, không biết bây giờ anh trôi giạt về đâu! Nhớ lại chuyện này tôi thấy thật là thương xót cho anh chị Tống Hường của tôi, vợ chồng mới cưới, đếm chưa đầy ba trăm sáu mươi lăm ngày… Không biết anh chị có dịp gặp lại nhau sau ngày miền Nam lọt vào tay bọn Cộng Sản hay không! Có thể anh chị đã già lắm, hoặc giả đã qua đời rồi cũng nên.
    

     Anh Thái ở cách một căn nhà là thầy giáo dạy vỡ lòng A B C cho chị em chúng tôi. Anh thật hiền nhưng nếu chúng tôi không đánh vần được hoặc không tập viết cho đẹp là bị anh khẽ tay đau lắm, nên tôi rất sợ. Mà hình như tôi chưa bị khẽ tay bao giờ! Thật là may mắn, chứ nếu năm ngón tay chụm lại để anh cầm cái thước gõ lên trên đầu ngón thì chắc chắn tôi không nín khóc được đâu!
     Nhà chúng tôi ở đường Phan Bội Châu, bên phía đầu đường có một sân bóng rổ dành cho các nữ học sinh của trường tàu ở chùa Ngũ Bang đến chơi bóng rổ vào buổi chiều, bên cạnh đó là một hồ sen, đến mùa sen nở trông rất đẹp, quanh sân bóng rổ và hồ sen có xây một bờ thành dày, trên có gắn những mảnh chai, cao quá đầu chị em tôi. Vì tò mò, chị Mai muốn nhìn xem bên trong có gì, tôi giúp chị bằng cách đỡ chị lên để chị có thể bám vào tường nhìn vào sân bóng rổ. Ai ngờ chị bám thế nào không biết, bị mảnh chai cắt vào tay thật sâu chảy máu quá chừng, chị không khóc trái lại tôi là người khóc thét lên vì thương chị bị đau và chảy máu như thế, hai chị em chạy về nhà, rồi anh Ba Đạt băng bó, cho đến bây giờ chị Mai nói: “cái thẹo vẫn còn lớn đó em vì lúc đó anh Ba chỉ băng lại chứ không may vết cắt”. Một lần khác hai chị em ngồi trên phản ngựa trước bàn thờ chơi trò đánh bóng đũa, chị vừa giơ tay bắt quả bóng bỗng ngã ngửa rớt xuống đất bất tỉnh, tôi thét lớn khóc bù lu bù loa, Ba chạy đến đỡ chị và cho chị uống thuốc gì đó và chị tỉnh lại. Thôi từ đó là không còn chơi trò bóng đũa nữa.

     Chị em chúng tôi thường hay chạy lên chợ vào buổi xế trưa, vì thời gian đó trong ngày thường vắng khách mua hàng, để được Me chiều chuộng mua quà vặt hoặc bún bánh ăn dặm. Và điều Me tôi thích nhất là chúng tôi đọc chuyện tàu “Tam Quốc Chí” hoặc “Tam Tạng Thỉnh Kinh” cho Me và các bà bạn nghe vào những lúc rảnh rỗi như thế. Sáng sớm Me đã ra chợ đến chiều mới về. Do đó bữa cơm gia đình thường trễ vì Ba tôi luôn đợi Me tôi ở chợ về mới dùng bữa tối. Chính nhờ ở sự cần mẫn làm ăn của Me mà gia đình chúng tôi không bao giờ bị thiếu thốn, nếu không muốn nói là gia đình sung mãn cũng đều nhờ ở một tay Me. Tôi không nhớ rõ Me tôi sinh em trai tôi lúc nào, chỉ biết là tôi có em và chị Ngỗng cứ ẵm em tối ngày nên đến gần năm tuổi em mới biết đi. Em trai tôi quyến luyến chị Ngỗng rất nhiều vì thế cho nên lúc Ngỗng phải về quê lấy chồng, em tôi lăn nhào xuống đất khóc quá chừng, khiến chị Ngỗng cũng khóc theo, em chỉ mới lên năm! Chị tôi và tôi phải dỗ dành lắm em mới chịu. Còn một chuyện nữa của em, đó là lúc em lớn hơn và còn đang học trường Tiểu Học, có một người miền núi đem đến biếu anh Hai một con Sáo màu đen, mỏ vàng, thấy con Sáo đẹp và lạ anh đem sang biếu Ba, nhưng em là người thường hay bắt châu chấu về cho Sáo ăn nên Sáo thương em lắm. Nuôi được một thời gian Sáo biết nói, gọi tên em “Kiến ơi, Kiến ơi” suốt ngày. Thấy nó khôn quá Ba và em thường cho nó ra khỏi lồng bay quanh nhà tự do vui chơi vào ban ngày. Sáo đeo theo em tôi chứ không bay đi đâu cả chỉ khi nào ngủ là nó tự chui vào lồng để Ba treo lên phía sau nhà và lấy khăn lông bao quanh lồng cho Sáo ngủ. Có một lần em tôi đi học Sáo bay theo, bình thường em tôi bảo về là nó bay về, nhưng không hiểu sao lần này Sáo không chịu trở về mà cứ theo em hoài. Tôi nói: “thôi kệ, cho nó theo em đến trường đi”. Kiến nói: “Không được đâu, mấy đứa khác thấy là tụi nó lấy ná bắn chết liền”. Hôm đó vì lo nhốt Sáo em tôi sợ, trễ học nên em vừa bực tức vừa đi đến trường! Đến lúc em đi học về là Sáo lại rối rít gọi “Kiến ơi, Kiến ơi!”. Vậy thì làm sao giận được nữa chứ? Sáo và em tôi là đôi bạn chí thân đó mà! Nhưng bỗng một buổi sáng thức dậy thấy Sáo nằm chết trong lồng, em tôi lại khóc, tôi không nhớ lý do tại sao con Sáo của em chết. Nhưng cách đây không lâu em nói qua email từ Việt Nam: “là vì Ba quên phủ khăn cho Sáo ngủ mà đêm đó trời thình lình lại nổi cơn mưa to gió lớn”. Lần xa chị Ngỗng em khóc và lần này em khóc vì mất bạn. Em nói: “Buồn quá không còn nghe Sáo kêu “Kiến ơi, Kiến ơi” nữa! Tôi cũng buồn theo, thương Sáo mà cũng thương em thật nhiều. Lúc bấy giờ em tôi mới chín tuổi, cái tuổi chưa biết lo âu nhưng đã biết xúc động rồi.
    

     Các Anh lớn được Me thương như con của Bà, điều đó chỉ khi lớn khôn tôi mới nhận thấy được nhiều lần trong suốt cuộc đời Me. Me mua một căn nhà ở đường Cường Để cho gia đình anh Hai dọn ra riêng, vì gia đình anh Ba vừa hồi cư từ vùng có Việt Minh chiếm đóng nên anh Hai nhường chỗ cho anh Ba. Chị Ba là người Huế, con nhà Hoàng Phái mang họ Tôn Nữ, nấu ăn rất ngon nên mỗi lần nhà có kỵ, chị là người điều khiển hai bà chị dâu của tôi, chị Hai và chị Bốn, hiền như hai vị Bồ Tát, nấu nướng các món ăn. Còn gia nhân kẻ giã thịt, người giã tôm làm chả, gói ram, nướng gà, quay vịt và cùng làm các món ăn mà trong những ngày cúng giổ không thể nào thiếu. Chị đúng là một “Nội Tướng” tài ba. Chị Ba cao và đẹp, nói giọng Huế thiệt dễ thương nghe ngọt như mía lùi vậy đó, và chả tôm chị Ba tôi làm thì không chê vào đâu được. Nhà thật là rộn ràng vì con cháu tụ tập rất đông và vui như hội. Me bằng lòng các chị dâu tôi lắm, nhất là chị Ba với tài nấu nướng tuyệt vời của chị.
     Tôi hình như được Ba Me và các anh các chị thương yêu quá nhiều nên thường hay khóc và hơi khó tánh một chút. Chị Mai tôi hay nói: “Con khỉ ni cứ khóc hoài”. Anh Hai thỉnh thoảng cũng nói: “Khóc hoài nín đi không thôi “tau” đá cho một cái bây giờ”. Me thì nói: “Kệ hắn, khóc một chặp là hắn nín hà, đừng dỗ, con mà dỗ em sẽ làm nư khóc hoài ”. Quả đúng, khóc chán tôi chui vào sau cái tủ “Pho” đựng chén bác kiểu, thấy không có ai “thèm” để ý tới mình hết tôi tự nghĩ: khóc làm chi, hay mình thử cười một cái xem sao! À thấy không sao hết, lại cảm thấy dễ chịu tôi hết khóc đi ra. Lớn thêm tí nữa, tôi có những cái vui tìm thấy ở những con vật rất nhỏ như con kiến chẳng hạn, tôi có thể nằm sát ở một góc nhà nhìn bầy kiến tha mồi suốt cả giờ, không chán. Những con kiến đi ngược chiều nhau thường chụm đầu vào nhau rồi mới rẽ lối, con nào cũng vậy. Tôi thấy lạ hỏi Ba tôi tại sao vậy? Ba nói:
   -“Có gì đâu, kiến chào nhau đó con, giống kiến rất lễ phép biết sống hợp quần và biết giúp đỡ lẫn nhau nữa, năm sáu con kiến khiêng một hạt gạo đó con thấy không?
     Tôi gật đầu: -“Đúng rồi, hạt gạo to quá một con tha không nổi nên năm sáu con phải xúm lại khiêng, dễ thương quá ”! Vậy là bầy kiến lễ phép và biết giúp đỡ lẫn nhau hấp dẫn tôi suốt buổi trưa hè.
     Nói đến Ba là tôi phải nhắc đến một câu chuyện mà tôi nhớ hoài, không quên được, không thể nào quên được. Như tôi đã viết ở trên, Ba tôi làm nghề thầy thuốc bắc, cho nên trong gia đình kể từ các anh lớn đến con cháu hay gia nhân có ai bị cảm ho sổ mũi nhức đầu là đều do một tay ba đến tiệm thuốc Bắc của Ông Sáu Hòa, bốc thuốc về bảo gia nhân sắc (nấu) lên rồi uống. Chúng tôi chỉ uống thuốc bắc thôi. Ngoại trừ những lúc phải chích ngừa các bịnh đậu mùa hay dịch tả là phải đến trung tâm y tế mà thôi. Lần đó tôi mới tám tuổi bị cảm sốt phải nằm nghỉ cả ngày trên giường ở phòng sau, có cửa sổ và những khoảng trống trên tường cho thoáng gió. Tôi uống thuốc hai hôm rồi, đắng quá, đắng ơi là đắng! Phải mất một lúc lâu tôi mới uống xong tô thuốc đen thui đậm đặc đắng ngắt. Hôm sau tôi nhất định không uống nữa.
     Lúc Ba mang chén thuốc đầy còn nóng vào, tôi đắp mền trùm kín đầu thưa: – “Ba cứ để đó chút nữa nguội con uống ”
     Ba nói: – “Uống đi nghe con, hôm nay bớt sốt, vài bữa nữa chạy đi chơi được rồi”.
Ba vừa bước ra sau là tôi ngồi dậy bưng chén thuốc hắt qua khoảng trống trên tường xuống đường kiệt bên hè nhà. Và nằm xuống, nhưng tôi thật sự run quá! Lúc Ba tôi trở lại thấy chén thuốc đã cạn, Người hỏi: – “Con uống hết rồi sao, mau quá vậy, con đổ rồi hả? Tôi thưa: – “Dạ, con uống hết rồi” mà nước mắt tuôn trào. Ba nói: “Ba biết là thuốc đắng, lần này con uống giỏi quá, ba thưởng con năm đồng” Trời ơi tôi khóc vì hối hận chứ tôi có khóc vì thuốc đắng đâu. Tôi không dám từ chối cầm tờ năm đồng Ba cho vì sợ, và cũng vì ân hận quá nên tôi nằm xuống xây mặt vào vách, không dám nhìn Ba. Những ngày tiếp theo mỗi lần Ba đem thuốc vào là tôi vừa thổi cho nguội vừa uống trước mặt Ba để Ba bằng lòng. Và nhất định không nhận tiền thưởng “Uống thuốc giỏi” của Ba cho nữa, để tự tạ tội với Ba trong tâm tôi và nhất là không dám thú thật lỗi lầm tôi đã phạm. Từ đó về sau tôi không bao giờ dám nói dối Ba tôi điều gì hết và cũng tự nhủ lòng sẽ không nói dối với bất cứ ai. Tôi nghĩ rằng chắc Ba biết tôi đã đổ tô thuốc đi nhưng thay vì la rầy, Ba tôi đã bỏ qua và phạt tôi bằng cách thưởng tôi “Năm Đồng Uống Thuốc Giỏi” khiến tôi phải quay quắc hối hận đã phạm tội nói dối với đấng sanh thành, cái lỗi quá lớn không thể tha thứ, mà tôi không thể nào quên được. Tôi vẫn giữ bài học “Chén Thuốc Đắng” mãi đến tận ngày nay với lời tự hứa không bao giờ nói dối.

Trích từ đoạn mở đầu của “Chuyện Đời Tôi”

Dã-Thảo Quế-Trần. 12/11/2018.

Còn tiếp.