CHUYỆN ĐỜI TÔI.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo viết chuyện đời mình, dự định khi nào xong sẽ post lên chia xẻ cùng các Bạn, nhưng viết hoài mà chưa hết. Vả lại hình như mình càng già chữ nghĩa cũng già đi hay sao ấy, cứ quên đầu quên đuôi. Bây giờ Dã-Thảo phải có quyển tự điển bên cạnh để xem lại dấu hỏi dấu ngã mới khỏi viết trật dấu chính tả đó, các Bạn có tin không? Dã-Thảo suy nghĩ hay mình cứ post lên đi chứ không thôi nhỡ có gì thì sao! Hôm nay DT mới nhận được một cái thư của Bộ Giao Thông bắt Thảo phải đi khám tổng quát sức khỏe để xem thử DT có thể còn lái xe được không. Họ nói mình sắp lên 75 tuổi rồi…muốn lái xe là  phải “Xin” Bác sĩ mỗi năm…Vì thế cho nên DT post phần mở đầu “Chuyện Đời Tôi” để kỷ niệm ngày Bộ Giao Thông nhắc DT sắp bước hai chân xuống…mồ rồi. Mời Các Bạn đọc câu chuyện hôm nay của Dã-Thảo. Chúc Các Bạn một ngày vui.

Thân mến,

DTQT. 12/11/2018. 

Chuyện Đời Tôi.

     Tôi sinh ra trong một gia đình trung lưu và lớn lên tại thành phố Hội An thuộc quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Ba tôi làm nghề thầy thuốc bắc, Người đắc cử Hội Đồng Hương Chính làng Cẩm Phô, Hội An. Trong làng thường gọi ba tôi là Ông Hương, có người còn gọi là Ông Chánh vì ngày xưa có thời Ba làm Chánh Tổng. Ngày đó tôi chưa ra đời, tôi biết vậy vì chuyện được Dì Năm tôi kể rằng: “Có The house for sale 1999 002người hàng xóm lấn đất nhà ông Ngoại, chuyện kiện tụng lôi thôi đưa đến hàng Tổng nên Ông Chánh phải cho người “Đạc Điền” đến tận nơi đo lại ruộng đất cho đôi bên. Ông Ngoại thắng kiện mà không bị tốn kém gì cả vì thế cho nên Ông Chánh được ông Ngoại rất trân trọng và vô cùng quý mến. Ông Chánh góa vợ và có ba người con trai, nhỏ nhất lên tám, lớn nhất mới mười ba. Gia đình Ông Chánh sống rất đạm bạc vì ông một mình phải lo cho một người Cô già và ba người con còn đi học.
     Ông Ngoại có một người con gái góa chồng, còn trẻ, chưa có con, bà thường đi chợ ngang nhà Ông Chánh. Thấy người phụ nữ còn rất trẻ mặc tang phục đi ngang nhà, Ông Chánh ngạc nhiên vì không biết người phụ nữ trẻ kia “con cái” nhà ai? mà để tang cho ai vậy kìa? Hỏi ra mới biết là con gái Ông Trưởng Hoanh, là người được thắng trong vụ kiện tụng đất đai năm nào, đang để tang cho chồng. Ông Chánh để ý rồi mấy năm sau đi cùng người con trai lớn đến thăm Ông Trưởng Hoanh xin cưới người góa phụ trẻ kia làm vợ Chánh Thức cho ông. Người đàn bà trẻ đó về sau là Mẹ tôi, là Kế Mẫu của các anh tôi. Tất cả chúng tôi đều gọi Người bằng Dì. Me tôi làm dâu Bà Cô, nghe chừng cũng khó lắm, nhưng dì Năm nói: “Me bây” vượt qua được hết, “Me bây” chịu khó lắm, làm dâu, làm mẹ kế, rồi làm mẹ. Chỉ tội cho “Me bây” là sinh ba đứa con đầu, nuôi chẳng được bao lâu thì bị bịnh rồi chết lần hết. “Me bây” buồn lắm vì thế cho nên khi Me sinh Mai rồi Quế, Me gọi hai đứa bằng hai cái tên thật xấu là “Lỳ và Lợm” để khỏi bị thần chết bắt đi”. Vậy đó mà hai chị em chúng tôi cũng bị đau lên bịnh xuống như mọi trẻ con khác chứ có tránh đâu cho khỏi được. Nhưng có lẽ nhờ Me dán lên trán mỗi đứa một cái “Bùa Tên Tuyệt Xấu” cho nên tử thần ngán quá không dám bắt đi. Rồi chúng tôi trải qua không biết bao nhiêu là thử thách khó khăn trong đời, hai chị em tôi vẫn nhẫn nại cố gắng vượt qua và “Mai Lỳ Quế Lợm” còn sống khỏe đến bây giờ.
     Lúc lên Trung học tôi gọi Người là Me, chứ không gọi là Dì nữa, vì thấy các bạn không có ai gọi Mẹ bằng Dì như mình hết. Và các anh cũng theo tôi gọi Người bằng Me. Tôi có các cháu, con các anh, gọi mình bằng cô, xưng con ngọt xớt mặc dầu các cháu cùng tuổi với tôi, dễ thương chưa!

     Tôi còn có những người cháu trai con của một người chị, là dưỡng nữ của Ba Me, cũng theo cung cách đó xưng hô với tôi, các anh này lớn hơn tôi cả năm hay sáu tuổi chứ không ít đâu! Lạ quá. Chị có một người con trai bằng tuổi tôi, cao hơn tôi cả cái đầu học cùng năm, cùng trường nhưng ngồi khác lớp, cũng gọi tôi bằng cô và xưng con ngon lành, đó là Huỳnh Cần.
     Sỡ dĩ có Huỳnh Cần trong câu chuyện này của tôi vì có một thời trẻ dại mà tôi muốn kể ra đây hầu quý vị. Lúc bấy giờ tôi còn học ở tiểu học, Huỳnh Cần và tôi thường chơi trò bắn bi và búng dây thun với Mãnh, anh của Đoan bạn học cùng lớp với tôi, con Ông Huyện L. ở căn nhà hai tầng thật rộng, gần cuối dãy bên kia đường Phan Bội Châu, Mãnh búng thun rất giỏi. Có lần được Me mới mua cho trăm sợi dây thun, xanh đỏ tím vàng, thật đẹp, tôi ký ca ký củm thắt lại thành một sợi dài nối nhau thật dễ thương. Huỳnh Cần nói: “cô với con qua chơi búng thun với “thằng” Mãnh, thắng được con với cô để chung lại cho nhiều”. Nghe thích quá, vậy là “ừ” liền. Ai ngờ chỉ một hồi búng qua búng lại Huỳnh Cần và tôi thua hết chẳng còn sợi nào. Tôi oà khóc đòi lại, “thằng” Mãnh chẳng chịu trả, tôi khóc to hơn Huỳnh Cần hết hồn dẫn tôi về nói với Bà, tức là Me tôi đó, Me nói: “để Me mua thun khác cho”, tôi không chịu, nhất định phải là những sợi xanh đỏ tím vàng kia mà thôi, những sợi thun khác không phải của tôi. Vậy là cứ khóc, Me dỗ hoài không được, cuối cùng Me dẫn qua trước nhà “thằng” Mãnh xin: “Thôi con cho lại Em đi rồi bà mua cái khác cho con”. Ông Mãnh nhăn nhó lắc đầu. Huỳnh Cần phải năn nỉ giùm “Ông” Mãnh mới chịu vùng vằng trả lại, miệng chùng bùng nói: “ăn gian, bữa sau không thèm cho chơi thun nữa”. Bây giờ viết lại mà thấy thương Huỳnh Cần và Mãnh làm sao! nhất là Huỳnh Cần không còn nữa vì cháu bị Việt Cộng bắt cóc và thảm sát trước năm 1975. Còn “Ông” Mãnh thì tôi chưa gặp lại bao giờ, kể từ khi gia đình Mãnh dọn ra Huế thuở nào. Cũng phải là gần sáu mươi năm rồi, hơn nửa đời người chứ có ít đâu! Có một lần đọc chuyện của Vương Mộng Long thấy tác giả có nhắc đến một người bạn tên Mãnh, không biết có phải đó là Mãnh búng thun thật giỏi của một thời trẻ con, khờ dại của tôi hay không?
     Me tôi làm Kế Mẫu cho các anh và theo nghề buôn bán của Người Mẹ trước, nên Me cũng có một thớt hàng bán thịt ở chợ Hội An. Ông Ngoại hướng dẫn Me thêm nghề chăn nuôi và làm ruộng, để tăng thêm lợi tức cho gia đình. Ông mướn người làm ruộng, và hướng dẫn Ba tôi săn sóc ruộng nương. Làm ruộng thì phải có trâu bò để cày vì thế Ba tôi phải nuôi bò, nuôi bò phải có người chăn bò! Vậy là có thêm anh Thông, em trai anh Tống, ở vùng quê đến giúp, lùa bò ra đồng ăn cỏ. Gia đình lần hồi làm ăn khá giả ra. Bầy bò sinh sôi nẩy nở vì thế phải mướn thêm anh Cang để cùng chung sức với anh Thông chăm sóc đàn bò. Sau nhà có đất rộng nên chú Sáu được mướn để trồng bắp, trồng đậu, trồng khoai, trồng cà; còn anh Tống, một người trai trẻ khỏe mạnh lo việc gánh hàng lên chợ cho Me và trông nom buổi chợ sáng; có chị Liên miệng lúc nào cũng cười vui vẻ, lo việc cơm nước cho cả nhà. Khi tôi lớn lên thì đã thấy nhà đông người lắm, các anh tôi đều lập gia đình và vẫn ở chung với Ba Me. Gia đình thật là hạnh phúc đầm ấm. Tôi còn nhỏ quá nên không hiểu những chuyện đã xảy ra chung quanh mình nhiều lắm. Chỉ đến khi lớn lên tôi mới biết là chúng tôi và các anh tôi không cùng một mẹ. Chị em tôi có Vú Lào và một chị còn rất trẻ và cũng là cháu gọi Me tôi bằng Cô, săn sóc chúng tôi, Hường là tên chị. Sau này chị lập gia đình với anh Tống, anh gia nhân rất đắc lực trong công việc làm ăn của Ba Me. Me lo giúp cho anh chị cất một căn nhà, mái lợp bằng tranh thiệt dễ thương. Tôi thường ghé đến ngôi nhà lá đó thăm anh chị vào buổi chiều. Một chuyện thật buồn đã xảy ra cho hai vợ chồng mới cưới nhau chưa tròn một năm. Chị Hường về quê thăm gia đình ở phía bên kia sông, vùng có nhiều Việt Minh chiếm và thường hay xuất hiện vào ban đêm để quấy rầy dân chúng, bị bọn họ bắt sống, và buộc tội chị làm “Gián Điệp” cho Tây. Trong khi Chị chẳng có làm gì nên tội, chỉ có một tội là lấy chồng ở “Vùng Bị Chiếm”. Anh Tống chờ đợi hoài không thấy chị được tha trở về nên anh xin đi vào quân đội, anh nói để có cơ hội trả thù cho vợ. Anh Thông lên thay anh phụ việc cho Me. Anh Hoặc, một người ốm nhom như con cò hương vào thế anh Thông chăm sóc đàn bò. Có lần tôi thấy anh Tống mặc quân phục lái xe Jeep đến thăm Ba Me, anh vẫn chưa lập gia đình khác. Và đó là lần sau cùng tôi gặp anh, không biết bây giờ anh trôi giạt về đâu! Nhớ lại chuyện này tôi thấy thật là thương xót cho anh chị Tống Hường của tôi, vợ chồng mới cưới, đếm chưa đầy ba trăm sáu mươi lăm ngày… Không biết anh chị có dịp gặp lại nhau sau ngày miền Nam lọt vào tay bọn Cộng Sản hay không! Có thể anh chị đã già lắm, hoặc giả đã qua đời rồi cũng nên.
    

     Anh Thái ở cách một căn nhà là thầy giáo dạy vỡ lòng A B C cho chị em chúng tôi. Anh thật hiền nhưng nếu chúng tôi không đánh vần được hoặc không tập viết cho đẹp là bị anh khẽ tay đau lắm, nên tôi rất sợ. Mà hình như tôi chưa bị khẽ tay bao giờ! Thật là may mắn, chứ nếu năm ngón tay chụm lại để anh cầm cái thước gõ lên trên đầu ngón thì chắc chắn tôi không nín khóc được đâu!
     Nhà chúng tôi ở đường Phan Bội Châu, bên phía đầu đường có một sân bóng rổ dành cho các nữ học sinh của trường tàu ở chùa Ngũ Bang đến chơi bóng rổ vào buổi chiều, bên cạnh đó là một hồ sen, đến mùa sen nở trông rất đẹp, quanh sân bóng rổ và hồ sen có xây một bờ thành dày, trên có gắn những mảnh chai, cao quá đầu chị em tôi. Vì tò mò, chị Mai muốn nhìn xem bên trong có gì, tôi giúp chị bằng cách đỡ chị lên để chị có thể bám vào tường nhìn vào sân bóng rổ. Ai ngờ chị bám thế nào không biết, bị mảnh chai cắt vào tay thật sâu chảy máu quá chừng, chị không khóc trái lại tôi là người khóc thét lên vì thương chị bị đau và chảy máu như thế, hai chị em chạy về nhà, rồi anh Ba Đạt băng bó, cho đến bây giờ chị Mai nói: “cái thẹo vẫn còn lớn đó em vì lúc đó anh Ba chỉ băng lại chứ không may vết cắt”. Một lần khác hai chị em ngồi trên phản ngựa trước bàn thờ chơi trò đánh bóng đũa, chị vừa giơ tay bắt quả bóng bỗng ngã ngửa rớt xuống đất bất tỉnh, tôi thét lớn khóc bù lu bù loa, Ba chạy đến đỡ chị và cho chị uống thuốc gì đó và chị tỉnh lại. Thôi từ đó là không còn chơi trò bóng đũa nữa.

     Chị em chúng tôi thường hay chạy lên chợ vào buổi xế trưa, vì thời gian đó trong ngày thường vắng khách mua hàng, để được Me chiều chuộng mua quà vặt hoặc bún bánh ăn dặm. Và điều Me tôi thích nhất là chúng tôi đọc chuyện tàu “Tam Quốc Chí” hoặc “Tam Tạng Thỉnh Kinh” cho Me và các bà bạn nghe vào những lúc rảnh rỗi như thế. Sáng sớm Me đã ra chợ đến chiều mới về. Do đó bữa cơm gia đình thường trễ vì Ba tôi luôn đợi Me tôi ở chợ về mới dùng bữa tối. Chính nhờ ở sự cần mẫn làm ăn của Me mà gia đình chúng tôi không bao giờ bị thiếu thốn, nếu không muốn nói là gia đình sung mãn cũng đều nhờ ở một tay Me. Tôi không nhớ rõ Me tôi sinh em trai tôi lúc nào, chỉ biết là tôi có em và chị Ngỗng cứ ẵm em tối ngày nên đến gần năm tuổi em mới biết đi. Em trai tôi quyến luyến chị Ngỗng rất nhiều vì thế cho nên lúc Ngỗng phải về quê lấy chồng, em tôi lăn nhào xuống đất khóc quá chừng, khiến chị Ngỗng cũng khóc theo, em chỉ mới lên năm! Chị tôi và tôi phải dỗ dành lắm em mới chịu. Còn một chuyện nữa của em, đó là lúc em lớn hơn và còn đang học trường Tiểu Học, có một người miền núi đem đến biếu anh Hai một con Sáo màu đen, mỏ vàng, thấy con Sáo đẹp và lạ anh đem sang biếu Ba, nhưng em là người thường hay bắt châu chấu về cho Sáo ăn nên Sáo thương em lắm. Nuôi được một thời gian Sáo biết nói, gọi tên em “Kiến ơi, Kiến ơi” suốt ngày. Thấy nó khôn quá Ba và em thường cho nó ra khỏi lồng bay quanh nhà tự do vui chơi vào ban ngày. Sáo đeo theo em tôi chứ không bay đi đâu cả chỉ khi nào ngủ là nó tự chui vào lồng để Ba treo lên phía sau nhà và lấy khăn lông bao quanh lồng cho Sáo ngủ. Có một lần em tôi đi học Sáo bay theo, bình thường em tôi bảo về là nó bay về, nhưng không hiểu sao lần này Sáo không chịu trở về mà cứ theo em hoài. Tôi nói: “thôi kệ, cho nó theo em đến trường đi”. Kiến nói: “Không được đâu, mấy đứa khác thấy là tụi nó lấy ná bắn chết liền”. Hôm đó vì lo nhốt Sáo em tôi sợ, trễ học nên em vừa bực tức vừa đi đến trường! Đến lúc em đi học về là Sáo lại rối rít gọi “Kiến ơi, Kiến ơi!”. Vậy thì làm sao giận được nữa chứ? Sáo và em tôi là đôi bạn chí thân đó mà! Nhưng bỗng một buổi sáng thức dậy thấy Sáo nằm chết trong lồng, em tôi lại khóc, tôi không nhớ lý do tại sao con Sáo của em chết. Nhưng cách đây không lâu em nói qua email từ Việt Nam: “là vì Ba quên phủ khăn cho Sáo ngủ mà đêm đó trời thình lình lại nổi cơn mưa to gió lớn”. Lần xa chị Ngỗng em khóc và lần này em khóc vì mất bạn. Em nói: “Buồn quá không còn nghe Sáo kêu “Kiến ơi, Kiến ơi” nữa! Tôi cũng buồn theo, thương Sáo mà cũng thương em thật nhiều. Lúc bấy giờ em tôi mới chín tuổi, cái tuổi chưa biết lo âu nhưng đã biết xúc động rồi.
    

     Các Anh lớn được Me thương như con của Bà, điều đó chỉ khi lớn khôn tôi mới nhận thấy được nhiều lần trong suốt cuộc đời Me. Me mua một căn nhà ở đường Cường Để cho gia đình anh Hai dọn ra riêng, vì gia đình anh Ba vừa hồi cư từ vùng có Việt Minh chiếm đóng nên anh Hai nhường chỗ cho anh Ba. Chị Ba là người Huế, con nhà Hoàng Phái mang họ Tôn Nữ, nấu ăn rất ngon nên mỗi lần nhà có kỵ, chị là người điều khiển hai bà chị dâu của tôi, chị Hai và chị Bốn, hiền như hai vị Bồ Tát, nấu nướng các món ăn. Còn gia nhân kẻ giã thịt, người giã tôm làm chả, gói ram, nướng gà, quay vịt và cùng làm các món ăn mà trong những ngày cúng giổ không thể nào thiếu. Chị đúng là một “Nội Tướng” tài ba. Chị Ba cao và đẹp, nói giọng Huế thiệt dễ thương nghe ngọt như mía lùi vậy đó, và chả tôm chị Ba tôi làm thì không chê vào đâu được. Nhà thật là rộn ràng vì con cháu tụ tập rất đông và vui như hội. Me bằng lòng các chị dâu tôi lắm, nhất là chị Ba với tài nấu nướng tuyệt vời của chị.
     Tôi hình như được Ba Me và các anh các chị thương yêu quá nhiều nên thường hay khóc và hơi khó tánh một chút. Chị Mai tôi hay nói: “Con khỉ ni cứ khóc hoài”. Anh Hai thỉnh thoảng cũng nói: “Khóc hoài nín đi không thôi “tau” đá cho một cái bây giờ”. Me thì nói: “Kệ hắn, khóc một chặp là hắn nín hà, đừng dỗ, con mà dỗ em sẽ làm nư khóc hoài ”. Quả đúng, khóc chán tôi chui vào sau cái tủ “Pho” đựng chén bác kiểu, thấy không có ai “thèm” để ý tới mình hết tôi tự nghĩ: khóc làm chi, hay mình thử cười một cái xem sao! À thấy không sao hết, lại cảm thấy dễ chịu tôi hết khóc đi ra. Lớn thêm tí nữa, tôi có những cái vui tìm thấy ở những con vật rất nhỏ như con kiến chẳng hạn, tôi có thể nằm sát ở một góc nhà nhìn bầy kiến tha mồi suốt cả giờ, không chán. Những con kiến đi ngược chiều nhau thường chụm đầu vào nhau rồi mới rẽ lối, con nào cũng vậy. Tôi thấy lạ hỏi Ba tôi tại sao vậy? Ba nói:
   -“Có gì đâu, kiến chào nhau đó con, giống kiến rất lễ phép biết sống hợp quần và biết giúp đỡ lẫn nhau nữa, năm sáu con kiến khiêng một hạt gạo đó con thấy không?
     Tôi gật đầu: -“Đúng rồi, hạt gạo to quá một con tha không nổi nên năm sáu con phải xúm lại khiêng, dễ thương quá ”! Vậy là bầy kiến lễ phép và biết giúp đỡ lẫn nhau hấp dẫn tôi suốt buổi trưa hè.
     Nói đến Ba là tôi phải nhắc đến một câu chuyện mà tôi nhớ hoài, không quên được, không thể nào quên được. Như tôi đã viết ở trên, Ba tôi làm nghề thầy thuốc bắc, cho nên trong gia đình kể từ các anh lớn đến con cháu hay gia nhân có ai bị cảm ho sổ mũi nhức đầu là đều do một tay ba đến tiệm thuốc Bắc của Ông Sáu Hòa, bốc thuốc về bảo gia nhân sắc (nấu) lên rồi uống. Chúng tôi chỉ uống thuốc bắc thôi. Ngoại trừ những lúc phải chích ngừa các bịnh đậu mùa hay dịch tả là phải đến trung tâm y tế mà thôi. Lần đó tôi mới tám tuổi bị cảm sốt phải nằm nghỉ cả ngày trên giường ở phòng sau, có cửa sổ và những khoảng trống trên tường cho thoáng gió. Tôi uống thuốc hai hôm rồi, đắng quá, đắng ơi là đắng! Phải mất một lúc lâu tôi mới uống xong tô thuốc đen thui đậm đặc đắng ngắt. Hôm sau tôi nhất định không uống nữa.
     Lúc Ba mang chén thuốc đầy còn nóng vào, tôi đắp mền trùm kín đầu thưa: – “Ba cứ để đó chút nữa nguội con uống ”
     Ba nói: – “Uống đi nghe con, hôm nay bớt sốt, vài bữa nữa chạy đi chơi được rồi”.
Ba vừa bước ra sau là tôi ngồi dậy bưng chén thuốc hắt qua khoảng trống trên tường xuống đường kiệt bên hè nhà. Và nằm xuống, nhưng tôi thật sự run quá! Lúc Ba tôi trở lại thấy chén thuốc đã cạn, Người hỏi: – “Con uống hết rồi sao, mau quá vậy, con đổ rồi hả? Tôi thưa: – “Dạ, con uống hết rồi” mà nước mắt tuôn trào. Ba nói: “Ba biết là thuốc đắng, lần này con uống giỏi quá, ba thưởng con năm đồng” Trời ơi tôi khóc vì hối hận chứ tôi có khóc vì thuốc đắng đâu. Tôi không dám từ chối cầm tờ năm đồng Ba cho vì sợ, và cũng vì ân hận quá nên tôi nằm xuống xây mặt vào vách, không dám nhìn Ba. Những ngày tiếp theo mỗi lần Ba đem thuốc vào là tôi vừa thổi cho nguội vừa uống trước mặt Ba để Ba bằng lòng. Và nhất định không nhận tiền thưởng “Uống thuốc giỏi” của Ba cho nữa, để tự tạ tội với Ba trong tâm tôi và nhất là không dám thú thật lỗi lầm tôi đã phạm. Từ đó về sau tôi không bao giờ dám nói dối Ba tôi điều gì hết và cũng tự nhủ lòng sẽ không nói dối với bất cứ ai. Tôi nghĩ rằng chắc Ba biết tôi đã đổ tô thuốc đi nhưng thay vì la rầy, Ba tôi đã bỏ qua và phạt tôi bằng cách thưởng tôi “Năm Đồng Uống Thuốc Giỏi” khiến tôi phải quay quắc hối hận đã phạm tội nói dối với đấng sanh thành, cái lỗi quá lớn không thể tha thứ, mà tôi không thể nào quên được. Tôi vẫn giữ bài học “Chén Thuốc Đắng” mãi đến tận ngày nay với lời tự hứa không bao giờ nói dối.

Trích từ đoạn mở đầu của “Chuyện Đời Tôi”

Dã-Thảo Quế-Trần. 12/11/2018.

Còn tiếp.

VÔ CÙNG CẢM KÍCH.

Cùng Bạn Đọc,

     Mời Các Bạn click vào video này để nghe tin Cộng Đồng Việt Nam ủng hộ Tổng Thống Trump. Dã-Thảo đang vừa nghe vừa post lên trang nhà, đang rất vui mừng và, hy vọng nước Việt Nam của chúng ta sẽ thoát khỏi tay cộng sản. Xin share cùng Các Bạn tin vui này. 

Thân mến,

DTQT. 07/11/2018.

Video Tổng Thống Trump nói chuyện đã bị xóa. Mời Bạn click vào video dưới để nghe Biển Đông 360 tường trình qua tiếng Việt (Ngụy Vũ và Trần Nhật Phong)

BẠN CŨ NĂM MƯƠI NĂM – TRÀM CÀ MAU.

 Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo nhận được truyện ngắn này từ một người Bạn, cũng hơi lâu nên DT không nhớ là của Bạn nào đã email cho mình. Vì thấy câu chuyện hay DT copy lại để đọc nên xóa email ngay, rồi quên luôn. Hôm nay kiểm lại để sắp xếp cho cái PC gọn gàng một chút, chứ lộn xộn quá lắm khi kiếm không ra bài mình muốn. May mắn là DT lúc nào cũng giữ tên Tác Giả nên Thảo lên Net tìm ra bài viết từ đâu đến. Thưa các Bạn Thảo tìm ra được câu chuyện của Tác Giả Tràm Cà Mau, do Lương Trương post lên “Thế Giới Mới” vào ngày 11/06/2017. Câu chuyện thật hay, thật dễ thương và thật cảm động, cho nên xin phép Tác Giả Tràm Cà Mau và Lương Trương cho DT reblog lên trang nhà câu chuyện này để share cái tình bạn rất quí của hai người, đến Các Bạn của DT. Mời Các Bạn kéo xuống đọc, cùng thưởng thức câu chuyện “Bạn Cũ Năm Mươi Năm”.  Thành thật cảm ơn Tràm Cà Mau và Lương Trương.

Thân kính,

DTQT. 04/11/2018.

Thien duong Hoa o Nhat.

Bạn cũ năm mươi năm

      Mời quý vị đọc một chuyện có thể nói là “hậu Valentine” nhưng không phải tình yêu nam nữ, mà là một TÌNH BẠN thật cảm động.

Tràm Cà Mau.

(Chuyện kể của ông Hai)

     Dạo đó, tôi vừa mới trổ mã, bể tiếng, tay chân tự nhiên dài ngoằng ra, áo quần thành ngắn cũn cởn. Tôi vụng về, ngơ ngác, làm cái gì cũng hư hỏng, má tôi cứ la rầy mãi. La rầy để quở trách mà cũng chan chứa tình yêu thương. Tôi ăn cái gì cũng ngon, đặt lưng xuống đâu cũng ngủ được say sưa.

     Thời nầy, đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, nước Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập nền đô hộ cũ. Toàn dân đứng lên kháng chiến, cầm tầm vông vạt nhọn đánh nhau với Tây. Khí thế đằng đằng. Cũng như mọi thanh niên khác, tôi tham gia kháng chiến. Nói là đánh nhau với Tây, nhưng chạy thì nhiều hơn, vì lồ ô vạt nhọn không cự nổi với súng ống của Tây.

     Tôi bị Tây bắt lãng xẹt khi đang ngủ giữa ban ngày. Bị trói ké, đem về giam tại thành phố. Trong trại giam, mỗi ngày phải đi làm lao động vệ sinh, dọn rác, quét lá, lấp các vũng bùn lầy, khai mương. Tôi làm quen được một ông lính kèn, mỗi ngày mượn cái kèn thổi tò te làm khổ lỗ tai mấy ông lính Tây chơi. Không có chi chói tai bằng nghe mấy anh tập kèn cứ ọ è từ giờ nầy qua giờ kia mãi.

     Tập hoài rồi cũng thổi được. Một lần cao hứng tôi thổi khúc kèn báo hiệu tan giờ làm việc, tiếng kèn vang vọng, rõ ràng, làm mấy ông Tây tưởng đã hết giờ, rủ nhau ra về. Tôi bị phạt giam đói, và anh lính kèn cũng bị khiển trách, không cho tôi mượn cây kèn nữa. Nhưng sau đó hai tuần, tôi được cho ra khỏi tù. Họ phát cho tôi áo quần lính, và sung vào đội thổi kèn. Ban quân nhạc của Tây. Nhờ có một chút hiểu biết về âm nhạc Tây Phương, tôi học nhạc cũng khá dễ dàng, không như các ông bạn khác. Khi tập thổi kèn mà chơi, thì tôi cảm thấy vui, ham thích, thú vị, nhưng khi phải tập kèn vì bắt buộc, thì thật là chán nản, mệt nhọc, bực mình. Ông trung sĩ chỉ huy đội quân nhạc không vui, vì đã chọn lầm người. Trước đó, ông tưởng tôi có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, nên đề nghị tuyển dụng. Về sau ông thường nói lời an ủi rằng, thiếu chó thì bắt bất cứ con gì ăn phân cũng được, miễn sao biết ăn phân thì thôi. Nghe ông nói vậy, tôi cũng tự ái, và bực mình. Thường thường, thì đội lính kèn được nhàn hạ. Mỗi ngày, mấy xuất thổi kèn báo hiệu buổi sáng thức dậy, như con gà gáy sáng, bao giờ làm việc, báo giờ nghỉ, giờ tan sở. Báo hiệu thật đúng giờ. Thế thôi. Còn ngoài ra thì chơi cờ, tán dóc, trêu ghẹo nhau, nhưng không được bài bạc. Mỗi sáng tiếng kèn vang vang: “Tọ tè ti tọ tè ti…ti tọ ti tè… “Mà lũ con nít chuyển âm thành: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.” Nghe y hệt tiếng kèn đồng.

     Trong đám lính kèn, tôi chơi thân với Tư Thàn, vì anh cùng tuổi, cũng độc thân và cùng hoàn cảnh như tôi, bị Tây bắt và sung vào đội quân nhạc. Chúng tôi thường rủ nhau đi xem hát ban đêm. Chúng tôi biết và thuộc lòng tên đào kép của các gánh cải lương, hồ quảng. Nhiều lần, Tư Thàn thổ lộ ước mơ của anh là được vào làm việc cho gánh cải lương, làm kép độc, nhờ đó, mà anh có thể mùi mẫn với các cô đào đẹp như tiên kia. Anh không có tham vọng được nổi tiếng, chẳng cần được khán giả mến mộ, chỉ mong gần gũi cái nhan sắc của các cô đào thôi.

     Có lần, tôi nhặt được tấm ảnh của một cô gái nào đó. Hình chụp rất điệu, ngón tay trỏ tựa má, hai cái núng đồng tiền lún sâu rất duyên, mặt sáng và tươi, mắt ướt rượt. Có lẽ bên ngoài đẹp mê hồn. Tôi đưa tấm ảnh cho Tư Thàn xem, và bảo rằng đó là con Mười, em gái tôi ở Long Xuyên mới gởi lên.

     Kể từ khi thấy tấm hình nầy, Tư Thàn nể nang tôi lắm. Tôi có thể sai Tư Thàn làm những việc mà trước đây anh không bao giờ làm giúp. Tôi mượn tiền anh dễ dàng hơn, mà anh bớt nhăn nhó khó chịu. Tôi lờ mờ biết Tư Thàn mê cô gái trong tấm hình, và hi vọng được lòng tôi, thì sẽ được lòng em tôi. Vốn tính nhút nhát, nên Tư Thàn không bao giờ dám hỏi thẳng về em tôi. Chỉ một lần, anh đánh bạo hỏi tôi khi nào về thăm nhà, và có thể cho anh đi cùng, về chơi có được không. Tôi đáp rằng dĩ nhiên là được, và sẽ mời anh ở lại nhà vài hôm. Nghe vậy, Tư Thàn sướng đến đỏ cả mặt. Sau nầy, tôi cho Tư Thàn tấm ảnh đó, anh cất kỹ trong ví, lâu lâu mở ra xem mà mơ mộng.

     Buổi sáng, tôi và Tư Thàn thường hay ăn cháo trắng với hột vịt muối của cô Năm Cháo Trắng bán, cô nầy có nước da ngăm ngăm, duyên dáng. Hàng cháo gánh, ngồi chồm hổm ăn, hoặc ngồi trên các đòn gỗ thấp sát đất. Có nhiều anh lính trêu ghẹo, tán tỉnh cô, nhưng khi nào cô cũng vui vẻ, tươi cười, không làm mất lòng ai. Tôi cũng khoái cô nầy, thường giả vờ hết tiền, ăn thiếu nợ. Ðến tháng lãnh lương, thì trả, nhưng không trả hết, khi nào cũng xin khất lại một ít. Cứ nợ cô, thì cô phải nhớ đến số tiền nợ. Nhớ đến số tiền nợ, thì phải nhớ đến người mắc nợ, tức là cô phải nghĩ đến mình. Cái mưu kế nầy, tôi nghe được trong một tiệm hớt tóc mà mấy anh thủy thủ kháo nhau. Tôi có bày mưu nầy cho Tư Thàn, mà anh không chịu nghe theo, cứ sòng phẳng trả hết tiền, không bao giờ chịu thiếu một xu.

     Một hôm tôi rủ Tư Thàn đi xem cải lương, anh viện cớ bận việc, tôi đi một mình. Khi ngồi trong rạp, nhìn xéo qua bên kia, thì tôi thấy Tư Thàn và cô Năm Cháo Trắng đang ngồi bên nhau. Tay Tư Thàn đưa lên chỉ trỏ, như đang giải thích gì đó. À thì ra Tư Thàn đã bí mật phổng được cô hàng cháo, mà anh em không ai hay biết. Tôi tránh mặt cho Tư Thàn làm ăn được tự nhiên.

     Hôm sau, gặp Tư Thàn, tôi làm bộ giận, mà thực ra thì tôi cũng hơi ghen tức. Tôi thì đặt mưu tính kế, mà chẳng được cơm cháo gì, Tư Thàn cứ tự nhiên, thì vớ được cô hàng cháo. Tôi cứng giọng, nói với Tư Thàn:

     –“Mày phản bội em tao. Trả tấm hình con Mười lại cho tao. Tưởng mầy đàng hoàng, thì ra…”

     –“Tao làm gì mà gọi là phản bội?”

     –“Mầy còn giả vờ? Hồi hôm mầy đi đâu? Làm gì? Với ai? Có chối được không?”

     –“Ai nói với mầy?”

     –“Chính mắt tao thấy. Tao để yên cho chúng mày hú hí. Chối tội làm chi?”

Tư Thàn bẻn lẻn móc ví trả tôi tấm hình cô gái có hai cái núng đồng tiền. Anh có vẽ tiếc lắm. Cuối cùng anh nói:

     –“Em gái mày đẹp như thế nầy, thì chán chi người dòm kẻ ngó. Tao làm gì mà vói thấu. Trả hình lại cho mày là phải.”

     –“Mày định bắt cá hai ba tay sao? Con Năm Cháo Trắng cũng có duyên lắm đó chứ!”

     –“Ừ. Có duyên. Hồi hôm, em thú thật với tao em là ‘đầu gà đít vịt’ Mầy thấy da em ngăm ngăm không?”

     Tôi hỏi Tư Thàn làm sao mà câu được em Năm Cháo Trắng? Trong lúc tôi bày mưu tính kế mà không được em đáp ứng. Tư Thàn cho rằng tôi ngu, đàn bà con gái không ưa những người bê bối, mang nợ mắc nần. Sau nầy về làm chồng quen thói nợ nần, ai mà chịu nỗi. Thì ra, tôi nhẹ dạ tin vào mưu kế tào lao của mấy anh thủy thủ gà mờ.

     Từ ngày trả lui cho tôi tấm hình cô gái có núng đồng tiền, Tư Thàn không còn nể nang tôi như trước kia nữa. Tôi biết mình ngu, đòi lại tấm hình, chẳng ích gì, nhưng đã lỡ rồi, tiếc cũng không được.

     Tôi thường ứng trực thế cho Tư Thàn, để anh có thì giờ đi chơi với cô Năm Cháo Trắng. Bởi vậy, sau nầy cô thường múc cho tôi những tô vun, cháo muốn tràn ra ngoài. Từ đó, tôi không bao giờ thiếu nợ cô nữa.

     Thường thường, Tư Thàn và tôi trốn trại đi xem đá gà ở xóm trong. Thiên hạ đánh cá ồn ào. Chúng tôi cũng thường bắt độ, khi ăn khi thua, mà thua thì nhiều hơn ăn. Những khi ăn tiền cá độ, chúng tôi dắt nhau đi ăn nhậu vui vẻ, ăn thâm cả tiền túi. Khi thua, thì hai đứa lủi thủi ra về, phải vay mượn tiền bạn bè để gỡ gạc. Có hai lần bị cảnh sát bố ráp, cả phường đá gà bỏ chạy, chúng tôi cũng sợ bị bắt, chạy trốn, cho nên mất luôn tiền cá độ. Từ đó, chúng tôi tìm ra một cách đánh cá khác, mà chủ cá độ không móc được của chúng tôi một xu. Hai đứa tôi đánh cá riêng với nhau, đứa nầy được, thì đứa kia thua. Chúng tôi gọi là lọt sàng xuống nia. Và sau cuộc đá gà nào, chúng tôi cũng có buổi ăn nhậu, vì một trong hai đứa thắng cuộc. 

     Thời trước Tư Thàn có nuôi gà đá, nên nhiều kinh nghiệm, cứ nhìn vóc dáng bên ngoài, là biết ngay con gà có phong độ hay không. Thế là nợ Tư Thàn một số tiền bằng nguyên cả tháng lương. Nợ ít ít, thì còn nghĩ đến chuyện thanh toán, nợ nhiều quá, không còn muốn trả nữa. Tôi cứ khất mãi, và đến tháng lãnh lương cũng không trả bớt nợ cho Tư Thàn. Từ đó, giữa tôi và Tư Thàn có cái gì lấn cấn, tình bạn không còn như trước nữa. Tôi không dám ăn tiêu khi có mặt Tư Thàn, sợ bị hỏi nợ. Không phải tôi muốn giựt nợ, nhưng tôi tự bảo lòng, khi nào tiền bạc dư dả, thong thả mới trả.

     Một lần, Tư Thàn thấy tôi nói chuyện thân mật, cười nói với một cô nữ quân nhân. Giữa chỗ đông người, Tư Thàn hướng về tôi mà nói lớn:

     –“Sao mày nợ tao một tháng lương, lâu quá mà chưa trả? Phải vay mượn mà trả chứ?”

Tôi bị mất mặt trước đám đông, phát cáu, giận đỏ mặt. Tôi nghiến răng trả lời:

     –“Mầy còn đòi tiền nợ, thì tao đục cho trào máu.”

Tư Thàn lảng đi nơi khác, mà tôi thì cũng không hết giận, định đi theo gây sự thêm. Vì một món nợ đá gà, mà chúng tôi mất tình bạn.

     Sau năm 1954, Tây rút về nước, chế độ Cộng Hòa được thành lập tại miền Nam. Chúng tôi được giải ngũ, về đời sống dân sự. Tư Thàn đem vợ là cô Năm Cháo Trắng về quê làm ăn. Tôi ở lại thành phố, làm đủ thứ việc, đủ sống qua ngày, nhưng vì con đông, cho nên khi nào cũng thấy thiếu thốn.

     Mười mấy năm sau khi giải ngũ, một hôm tôi lái xe chuyển kinh sách cho hội Thánh Tin Lành về miệt Long Xuyên, trên đường trở về, chiếc xe làm nư, chết máy giữa đường, không biết làm sao mà sửa. Tôi ngồi bên vệ đường, dưới bóng cây nhỏ. Ðầu óc suy nghĩ, tính kế không ra. Tôi định bắt xe đò về tỉnh lỵ, rước thợ ra sửa xe. Chờ hoài mà không có xe qua. Phía dưới ruộng khô, có một nông dân đang cày đất với hai con trâu. Nắng cháy, cổ khát. Tôi thấy anh nông dân ngưng cày, lên bờ lấy bầu uống nước. Túng quá, tôi đánh liều kêu lớn:

     –“Nầy anh ơi, khát quá, cho tôi uống nước với”

Người nông phu mang áo đen, quần xà lỏn, chậm chạp băng ruộng, đem cái bầu nước đến cho tôi. Khi đến gần, thì anh reo lên:

     –“Mày đó phải không Quài. Sao biết tao cày ruộng ở đây mà ghé lại thăm?”

Tôi mừng quá, thét lớn:

     –“Tư Thàn! Mày! Ð. M. mày. Thằng quỷ. Mày ở đây hả? Chiếc xe nó biết có mầy ở đây, nên chết máy, để cho tao gặp mầy.”

     Tư Thàn và tôi xoắn lấy nhau, nhắc chuyện mười mấy năm trước. Ðủ thứ chuyện. Nói cho nhau biết tin tức gia đình mỗi người. Tư Thàn có hai thằng con trai. Ðời sống của gia đình thong thả, nhờ cô Năm Cháo Trắng buôn bán thêm ngoài chợ quận. Gạo cơm đủ ăn. Mười mấy năm, Tư Thàn chưa về lại Sài Gòn lần nào, vì cũng không có chuyện gì, mà chẳng còn ai để thăm viếng.

     Tư Thàn bỏ dở luôn buổi cày ruộng. Tôi cũng bỏ kệ cho chiếc xe nằm ụ bên đường, đến đâu thì đến, theo Tư Thàn đi vào làng. Nhà Tư Thàn trống trải, đơn sơ như tất cả mọi nhà nghèo miền quê.

     Tư Thàn lấy cái nơm làm bẫy, rải lúa cho gà ăn, và bắt được một con gà trống thiến lớn. Làm thịt, bao đất sét, nướng lửa rơm. Tư Thàn đem ra hai lít đế trong veo. Khi gà chín, tôi đập cái vỏ đất sét, để cả con gà lên chõng tre có lát sẵn mấy tàu lá chuối tươi, mà Tư Thàn đã rửa sạch. Chúng tôi bốc tay mà ăn, cầm đùi gà nhai, rượu vào đều đều, cạn chai nầy, qua chai kia. Chúng tôi cùng nhắc chuyện xưa, chuyện không đầu, không đuôi, chuyện nầy lẫn qua chuyện khác. Hai đứa nhỏ con Tư Thàn đi học về, cũng nhào vào xâu xé con gà. Tôi ép thằng lớn hớp một ngụm đế, nó nhăn mặt phun ra. Tư Thàn và tôi cùng cười vang. 

Khi trời xế chiều, thì cô Năm Cháo Trắng cũng gánh hàng về. Cô nhận ra tôi, kêu thét lên vui thú, và phát vào vai tôi nhiều lần đau điếng. Cô mắng:

     –“Cái ông khỉ nầy, tưởng chết rấp đâu rồi chớ. Làm sao biết tụi tôi ở đây mà ghé chơi? Vui quá xá”

     Ðêm đó, cô Năm Cháo Trắng nấu cháo vịt, mượn hàng xóm thêm mấy lít đế, chúng tôi ngồi ăn nhậu dưới trăng cho đến khuya. Ăn uống no say. Tôi chợt nhớ tới món tiền mà tôi nợ Tư Thàn, trị giá bằng một tháng lương vào thời gian mười mấy năm trước, mà chưa trả, và cũng chưa hề toan tính thanh toán cho sòng phẳng. Cũng vì món nợ đó, mà cái tình bạn thân thiết giữa chúng tôi có một thời lấn cấn, mất đi cái mặn nồng, không còn như trước. Tôi chậm rãi nói lè nhè trong hơi men:

     –“Tao bậy quá, còn mắc nợ mầy mà chưa có dịp trả. Công việc làm ăn, cũng không khá, mà con cái đông đúc, có cơm no bụng từng ngày là may lắm. Tiền không có dư…”

Tư Thàn cười hiền hòa, giọng ấm áp nói:

     –“Thôi, quên chuyện xưa đi. Nợ nần cái khỉ gì? Chuyện cờ bạc thời trai trẻ dại dột, để tâm làm chi? Bạn bè gặp lại nhau, là quý rồi.”

     Có lẽ vì rượu đã ngấm nhiều, mà nghe lời nói chí tình của bạn, mắt tôi cay xè. May mà tối trời không ai thấy. Tôi xịt mũi. Ðêm đó, tôi ngủ lại nhà Tư Thàn, và nói chuyện rầm rì trong bóng tối cho đến khuya.

     Sáng hôm sau tôi ra chỗ xe nằm ụ, thì thấy chiếc xe chỉ còn là một đống sắt cháy nham nhở. Thì ra đêm qua, du kích đặt mìn phá, mà ngủ mê quá, chúng tôi từ làng trong, không nghe biết. Tôi lấy xe đò về Sài gòn, và bị đuổi việc. Nhưng may mắn, không bị hội thánh bắt bồi thường. Có lẽ họ biết, tôi đưa mạng cùi ra, có bắt đền cũng không moi được một xu, thì tha làm phước. Vã lại thời buổi chiến tranh, không ai dự liệu trước được chuyện bom mìn.

     Tháng tư năm 1975 tôi đem gia đình chạy, chưa biết sẽ chạy đi đâu, về đâu, và làm sao mà sinh sống sau nầy. Cứ chạy đã. Vì sợ phải đi tù như một số bạn tôi, họ đã trở về miền Bắc vào năm 1954, và nghe đâu một số đã chết trong tù, một số còn bị giam giữ hơn hai mươi năm chưa được thả. Ðó là tin tức chính xác đi quành từ miền Bắc qua Pháp, và từ Pháp về miền Nam. Tôi được nước Mỹ cho vào cư trú, đi làm đủ thứ nghề tay chân. Cuối cùng vào làm y tá cho một trung tâm dưỡng lão của quận hạt. Hai mươi mấy năm đời sống yên lành, no ấm, hạnh phúc.

     Năm 2001, sau hai mươi sáu năm xa quê hương, tôi về lại Việt Nam một mình, lần thứ nhất, để sắp đặt việc cưới vợ cho đứa con trai út.

     Khi đang ở Sài gòn, tôi nghe tin bọn khủng bố đánh sập tòa nhà đôi chọc trời ở New York. Ban đầu tôi không tin, và nghĩ rằng mấy ông Vẹm hay nói dối, đặt chuyện xạo tuyên truyền, nói xấu đế quốc Mỹ. Nhưng sau đó, xem truyền hình, tôi sửng sốt, bàng hoàng. Lòng tôi đau nhói, và nhận ra rằng, quê hương mới là nước Mỹ, cũng muôn vàn yêu mến, thắm thiết không thua gì quê hương cũ Việt Nam. Tất cả mọi chuyến bay đều bị hủy bỏ, việc vào ra nước Mỹ cũng tạm ngưng. Tôi chưa thể trở về lại Mỹ được, và trong lòng cũng tràn đầy lo ngại, không biết có thể về lại Mỹ được không. Hay là kẹt lại ở Việt nam mãi, cho hết cuối đời. Bảy mươi mấy tuổi rồi. 

     Một đêm mất ngủ, tôi ra đứng ở hành lang khách sạn. Từ trên cao nhìn xuống phố phường bên dưới, tôi chợt nhớ, hơn năm mươi năm trước, nơi đây còn lau sậy um tùm, đất thấp ngập nước, hoang vu. Từ bên trong phòng vọng ra tiếng ngâm thơ khuya qua cái radio nhỏ, giọng khàn đục buồn não nề:

Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Ðêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…” (*)

     Lòng tôi chùng xuống, và chợt nghĩ hơn nửa thế kỷ trôi qua, vèo mau như mộng. Mới ngày nào đó, tôi bị Tây bắt đi tù, sung vào đội lính kèn. Bao nhiêu là đổi thay, bao nhiêu bãi biển đã biến thành nương dâu, bao nhiêu trũng hoang đã trở thành phố thị. Những thế hệ trước tôi và đồng thời với tôi, có lẽ đa số đã về với lòng đất. Yên bề. Những người còn sống sót như tôi, bây giờ ở đâu, làm gì?

     Bỗng tôi chợt nhớ đến Tư Thàn. Nhớ tha thiết. Nhớ đến món nợ ngày xưa mà chưa trả được, lòng buồn rưng rưng. Tôi quyết định ngay, mong cho trời mau sáng, để thuê xe đi tìm thăm Tư Thàn.

      Chiếc xe thuê riêng, chở tôi chạy về miền Tây, đi tìm Tư Thàn. Anh tài xế nghe tôi nói đi tìm một người bạn cũ, gặp nhau lần cuối đã hơn ba mươi năm trước, anh lắc đầu, có lẽ anh cho tôi là một ông già khùng lẩm cẩm.

      Tôi chỉ nhớ mang máng cái nơi mà chiếc xe tôi lái bị đặt mìn hơn ba chục năm trước. Tôi vào làng hỏi xem ai có biết ai Tư Thàn, nay chừng trên bảy mươi tuổi, hồi xưa làm lính kèn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Mọi người đều lắc đầu, ngơ ngác. Tôi đi lang thang quanh làng, và hy vọng, còn có người biết Tư Thàn ở đâu. Khi tôi chán nản trở lại đường cái, ngồi trong cái chòi bán nước bên vệ đường, thì gặp một bà già. Tôi chận lại hỏi. Bà nhíu mày một hồi, suy nghĩ lung lắm. Bỗng bà la lên:

     –“Tôi nhớ ra rồi, từ lâu không ai gọi ổng là Tư Thàn nữa. Mà ông là ai, tìm Tư Thàn có chuyện chi không?”

     –“Tôi là bạn lính kèn với Tư Thàn khoảng hơn năm mươi năm trước. Bây giờ, nhớ bạn, ghé tìm thăm.”

     –“Trời đất! Năm mươi năm làm chi mà không thăm nhau, giờ mới trổ chứng đi tìm!”

     Mấy đứa trẻ con chạy ra ruộng kêu Tư Thàn về, người ta nói anh đang cuốc đất thuê. Tôi nghĩ không phải là Tư Thàn bạn tôi, bảy mươi lăm tuổi, còn sức đâu mà đi cuốc thuê. Lũ trẻ đưa về một ông già ở trần, xương sườn đếm được, tay chân khẳng khiu, chỉ mặc cái xà lỏn ngắn, đi chân đất. Da nhăn nheo, khô khốc, đen đúa, gầy gò, hai má hóp, miệng móm xọm, chỉ còn hai cái răng, một cái của hàm trên, một cái của hàm dưới, rất là thiếu mỹ thuật. Không có một nét nào của Tư Thàn cả, có lẽ tuổi ông nầy già hơn nhiều. 

     Tôi nheo mắt nói:

     “Tôi tìm Tư Thàn, hồi xưa làm lính kèn ở bộ Tổng Tham Mưu, có vợ là chị Năm Cháo Trắng.”

     Ông lão phều phào:

      –“Ông là ai? Tìm tôi có việc gì không?”

     –“Tôi tìm Tư Thàn. Tôi là bạn cũ.”

     –“Ông là bạn cũ của tôi? Chắc ông tìm lầm người rồi.”

     –“Ông biết Cô Năm Cháo Trắng?”

     –“Vợ tôi, má thằng Ðộ, thằng Rề.”

     Bây giờ thì tôi chắc chắn ông lão ngồi trước mặt tôi chính là Tư Thàn, không ai khác. Tôi còn mơ hồ thấy vài nét hao hao của thuở nào. Bố thằng Ðộ, Thằng Rề, hai thằng nầy tôi đã gặp hồi xưa. Ngày trước, Tư Thàn mong sinh được bảy đứa con đặt tên là Ðộ, Rề, Mi, Pha, Xôn, La, Xi, nhưng mới có mới có Ðộ, Rề, thì bà vợ tịt ngòi. Tư Thàn ngồi co một chân lên ghế dài, rất tự nhiên, cái quần xà lỏn kéo nhăn nhúm lên cao, để lòi nguyên bộ phận kín ra ngoài, một khúc đen điu, nhăn nhúm, nằm tựa trên một đùm bao da lưa thưa lông bạc trắng. 

     Tôi mừng quá, nắm lấy hai vai Tư Thàn mà lắc:

     –“Mầy không nhớ ra tao là ai hả Tư Thàn!”

     –“Không. Ông có lầm tôi với ai khác không? Ông là ai?”

     –“Thế thì mày không phải là Tư Thàn, lính kèn ở bộ Tổng Tham Mưu hả?”

     –“Tôi, Tư Thàn lính kèn đây.”

     Tôi làm bộ buồn bã đổi giọng:

     –“Có lẽ ông không phải là Tư Thàn tôi quen, mà là người khác trùng tên chăng?”

     –“Lính kèn, ở bộ Tổng Tham Mưu, trước năm năm mươi tư. Chỉ có Tư Thàn nầy thôi”

     Tôi nắm chắc hai vai Tư Thàn mà lắc, và hét lên:

     –“Ð.M. mầy không nhớ ra tao là ai, thật không? Hay mày giả bộ.”

     Tôi đưa tay lên miệng, với dáng điệu như đang thổi kèn và ca: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu, tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.”

     Nghe tiêng chửi thề và điệu kèn Tây của tôi, Tư Thàn nhào đến ôm lấy tôi mà thét lên:

     –“Ð. M. mầy, chỉ có mầy mới nói cái giọng nầy. Thằng chó chết, thằng dịch vật. Thằng Quài, mầy, Quài. Mà mầy sang trọng, và trẻ quá, ai ngờ, ai mà nhìn ra.”

     Ðám trẻ con đứng xem cười ầm lên khi thấy hai ông già văng tục và gọi nhau bằng mầy tao. Tư Thàn cảm động quá, cái miệng móm méo xẹo, và khóc thành tiếng hu hu, làm tôi cũng khóc theo. Tư Thàn nghẹn ngào:

     –“Mầy còn nhớ đến tao, tìm thăm. Ðồ dịch vật. Lâu nay mày chết rấp nơi nào?”

     Tư Thàn nhìn tôi từ đầu xuống chân, nói nho nhỏ:

     –“Tóc tai cũng còn, răng cỏ hai hàm còn nguyên, mặt mày có da có thịt, áo bỏ vào quần, đi giày đàng hoàng. Có phải mầy là Việt kiều về thăm quê hương không? Bây giờ mầy ở đâu? Làm gì?”

     Tôi sợ Tư Thàn buồn, nói dối:

     –“Việt kiều cái con khỉ. Tao ở Sài gòn, nhờ có mấy đứa con vượt biên ra nước ngoài, và mấy đứa ở nhà, buôn bán, ăn nên làm ra. Giờ già rồi, về hưu, không làm gì nữa cả.”

     Tôi hỏi thăm gia cảnh, Tư Thàn cho biết hai đứa con trai đều đã chết. Thằng Ðộ đi lính quốc gia, đã đền nợ nước, thằng Rề “hy sinh” cho “cách mạng”. Cô Năm Cháo Trắng chết bệnh. Tư Thàn không có ai để nương tựa, phải đi cuốc đất thuê kiếm ăn qua ngày. Tôi nhìn cái thân thể xương xẩu của Tư Thàn, không biết anh lấy đâu ra sức mà đi làm lao động chân tay. Tôi nói:

     –“Thôi, mầy đưa tao về nhà, thay áo quần, rồi cùng qua Long Xuyên, lu bù một bữa, anh em hàn huyên chơi, bỏ mấy mươi năm xa cách.”

     Tư Thàn ngự trong căn chòi nhỏ, bốn bề che lá đơn sơ. Không bàn, không giường, chỉ có cái võng treo xéo. Trên bếp có cái nồi đen điu, méo mó. Tôi dỡ nồi ra xem, thấy còn có miếng cơm cháy. Tôi bốc ăn, mà cứng quá, răng già không nhai nổi. Thế mà Tư Thàn không còn răng, ăn cách nào đây?

     Khi xe vào tỉnh lỵ Long Xuyên, tôi nhờ anh tài xế tìm cho một quán ăn ngon. Anh đưa chúng tôi vào quán nướng Nam Bộ. Tư Thàn gạt đi, không chịu vào, và nói:

     –“Kiếm chai đế và vài ba con khô cá sặc là đủ vui rồi. Ðừng hoang phí tiền bạc. Vào làm chi những nơi sang trọng nầy cho chúng chém. Gặp nhau là vui rồi. Ăn uống là phụ.”

     Tôi ép mãi mà Tư Thàn không chịu. Cuối cùng, chúng tôi ra chợ, ngồi trên ghế thấp ở quán lộ thiên, ăn nhậu và nói cười vui vẻ, tự nhiên. Tôi uống rượu thay nước, vì sợ đau bụng. Anh tài xế cùng ăn, mà tôi không cho anh nhậu rượu, anh tỏ vẻ khó chịu, vùng vằng.

     Ðưa Tư Thàn về lại tận nhà, tôi móc trong cặp một gói bao, bằng giấy báo đưa tặng. Tư Thàn mở ra xem, và giật mình, xô gói quà ra về phía tôi:

     –“Cái gì đây? Tiền đâu mà nhiều thế nầy? Tôi không lấy đâu. Ðừng bày đặt.”

     –“Có bao nhiêu đâu. Ngày xưa, tao nợ mầy chưa trả được, bây giờ trả lại cả vốn lẫn lời. Tao tính rồi, mầy nhận đi cho tao vui, bỏ công tao lặn lội đi tìm.”

     –“Không. Nợ nần cái khỉ gì. Ăn thua đá gà, chuyện tào lao thời trẻ dại. Tao đã bảo mày quên đi từ lâu. Bày đặt. Lấy tiền làm chi? Không có chỗ cất, bọn trộm cắp nó lấy đi, uổng lắm. Tao không lấy đâu.”

     Thấy bộ Tư Thàn cương quyết quá, tôi xuống giọng, giả vờ nói:

     –“Mầy mà không nhận, tao có chết nhắm mắt cũng không yên tâm. Chưa trả hết nợ, thì sau nầy phải đầu thai làm trâu cày cho mầy. Khổ lắm. Thương tao, mầy cứ cầm đi. Ðể mua gạo. Ðể khi đau yếu có chút thuốc thang. Nếu không có nơi cất, thì đem gởi bà con.”

     Ðôi mắt già của Tư Thàn chớp chớp, và nói giọng run run như sắp khóc:

     –“Ð.M, tao già đến thế nầy, mà mày cũng còn định gạt tao như hồi xưa nữa sao? Thằng chó chết. Cái tình bạn của mầy, còn quý gấp trăm ngàn lần gói tiền nầy. Tao sẽ làm mâm cơm cúng bà Tư Cháo Trắng, nói cho bà biết cái tình bạn của mày. Dưới suối vàng, chắc bà cảm động lắm.”

 Tràm Cà Mau.

(*) Thơ Trần Tế Xương

TT TRUMP XÉ NÁT…

Cùng Bạn Đọc,

     Mời Bạn click vào video dưới đây để nghe tin tức mới nhất: “Thời Sự Hoa Kỳ” Nghe rất vui và hy vọng Việt Nam sẽ thoát khỏi tay tàu cộng. Mong các Bạn VN ở Mỹ hãy cố gắng đi bầu cử, để ủng hộ Tổng Thống Trump tái đắc cử. Mong Các Bạn đừng thờ ơ, đừng làm ngơ. Hãy nhớ, tự mình đi bỏ phiếu không nhờ ai bỏ giùm. Cảm ơn các Bạn.

Thân mến,

DTQT.04/11/2018

 

CÂY GẬY PHẢN ĐỘNG.

Cùng Bạn Đọc,

     Đây cũng là hai sự kiện xảy ra ở quê nhà đăng trên Dân Làm Báo hôm 15/10/2018. Dã-Thảo xin phép Dân Làm Báo và Nhà Báo Hoàng Khương được copy hai tin này share trên trang nhà Dã-Thảo. Thành thật cảm ơn. Xin được chia buồn cùng Nhà Báo Hoàng Khương. Cầu nguyện cho Chị Huỳnh Thị Nhung yên bình nơi cõi vĩnh hằng.

Thân kính,

DTQT. 01/11/2018.

Cây gậy phản động và cái kéo thù địch!

hình Người lao động A

Bạn đọc Danlambao

     Ở Việt Nam ta và dưới sự lãnh đạo của đảng ta có một thứ không phải là người nhưng rất ư là phản động. Đó là cây gậy côn an. Gọi tắt là côn gậy. Cây gậy này bình thường thì nó rất hiền như khúc gỗ, nhưng khi vào tay côn an thì nó trở thành côn gậy mất dạy vô cùng. 

     Đặc điểm của côn gậy là nó không cần đến sự điều khiển của chủ nhân. Khi nó được nằm bên cạnh côn an là nó tự nhiên trở thành côn đồ, tự diễn biến và phản động hết biết luôn.

Cây gậy phản động

     Tài năng của côn gậy là nó có hấp ma đại pháp. Người dân đi ngang, đi gần, đi hơi xa xa là tự nhiên cái bản mặt cứ tìm côn gậy mà “va” vào. Chuyện tự va này đã xảy ra nhiều lần, nhiều năm. 

     Nạn nhân mới nhất của côn gậy là anh Lê Hữu Thạnh, sinh năm 1998, ngụ tại xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Hôm 9 tháng 10, anh Thạnh chở bạn gái dung dăng dung dẻ trên xe gắn máy thì bị côn an giao thông rọi đèn pin chận lại. 

     Sau cú rọi đèn này thì anh Thạnh phải nhập viện, mặt mày bị sưng phù với nhiều vết thương. 

     Theo giải trình của côn an thì “người dân ‘va’ vào gậy chứ không đánh”

hình Người lao động

Nguồn hình: Người Lao Động

      Nhìn hình của anh Thạnh thì chắc anh người dân này đã tìm mọi cách để va vào côn gậy của côn an đến mấy chục lần. 

hình Người lao động B

      Có tin vỉa hè cho biết là côn gậy đã yêu cầu côn an Tiền Giang tạm giam, điều tra, khởi tố người dân Lê Hữu Thạnh đã hành hung côn gậy bằng hành động va

 Cái kéo thù địch!

     Bên cạnh côn gậy phản động thì hình như những thứ gì gần gũi với côn an cũng có thể tự diễn biến

     Mới nhất là…cây kéo. 

     Nạn nhân là em dâu của nhà báo Hoàng Khương. Đây là nguyên văn status đăng trên FB cá nhân của anh: 

     Status vụ việc về cái chết của em dâu tôi tại trụ sở công an đăng chưa đầy 1 tiếng đã bị xóa không còn dấu vết. 

     Đây là nội dung tôi copy lại: 

 EM DÂU TÔI CHẾT TẠI TRỤ SỞ CÔNG AN VÌ… TỰ ĐÂM VÀO CỔ

      Chiều hôm qua, 13-10, em họ tôi (con chú ruột) và vợ sau khi dự đám giỗ bà nội tôi (Ninh Hòa, Khánh Hòa) trở về thì bị một số cán bộ Công an thị xã Ninh Hòa ập vào nhà làm việc. 

     Đến 15 giờ cùng ngày, em dâu tôi là Huỳnh Thị Nhung (1973, ngụ Dục Mỹ, Ninh Sim, Ninh Hòa, Khánh Hòa) bị đưa về trụ sở công an thị xã lấy lời khai về việc kinh doanh nhà trọ có dấu hiệu vi phạm pháp luật. 

     8 giờ sáng hôm nay, 14-10, em họ tôi nhận được điện thoại từ chủ tịch xã Ninh Sim thông báo Nhung đã chết tại cơ quan điều tra Công an thị xã Ninh Hòa, hiện đang khám nghiệm tử thi. Khi gia đình em tôi có mặt tại trụ sở Công an thị xã thì một vài vị công an mặt thường phục lạnh lùng thông báo em dâu tôi đã tự sát vào lúc 22 giờ. Trong lúc lấy lời khai, Nhung đã chụp chiếc kéo để sẵn trên bàn và tự đâm nhiều nhát vào ngực, cổ… 

      Thêm một cái chết đầy…kịch tính xảy ra tại trụ sở công an như biết bao vụ việc đã xảy ra. Lần này là Nhung, em tôi, người đàn bà quê lam lũ, ít học, hiền lành và là mẹ của đứa con…

     Có ai thống kê giùm trong 3 năm, 5 năm hay 10 năm trở lại đây đã có biết bao người đã chết tại trụ sở công an, nhà tạm giữ, tạm giam… 

      Mong em yên nghỉ.

      Anh hứa sẽ làm những gì có thể để linh hồn em được nhẹ nhàng… 

 https://www.facebook.com/hoang.khuong.184/posts/2138684892817309

 15.10.2018

 Bạn đọc Danlambao 

danlambaovn.blogspot.com

 

NỤ HỒNG CHO EM – Dân Làm Báo

Cùng Bạn Đọc,

     Nhân đọc Dân Làm Báo thấy có bài viết “Nụ Hồng Cho Em” của Tác Giả Nguyễn Phước Nguyên thật hay và cảm động. Dã-Thảo xin phép Tác Giả và Dân Làm Báo được share bài này để post lên trang nhà gởi đến Bạn Đọc của DT, trong và ngoài nước. Câu chuyện kể: Một đất nước, người dân không biết thương yêu nhau, bị ngoại xâm Vua quân chống không lại, phải rút vào rừng…nên mất nước và, sau đó… Chuyện còn dài và cảm động, Dã-Thảo mời Bạn click vào link dưới để đọc tiếp. Các Bạn sẽ nhận ra ngụ ý của Tác Giả trong câu chuyện ngắn này. Mời Bạn.

     Đất nước chúng ta cũng đang ở trong tình trạng bị bọn tàu hăm he cướp đó và, thật sự thì đất đã bị cướp và bán cho tàu từ lâu rồi, bọn bán nước đang chờ thời cơ thôi. Tình hình vô cùng xáo trộn và căng thẳng ở quê nhà đấy các Bạn ơi, chúng ta phải làm gì đây? Các Anh Chị Em trong và ngoài nước xin hãy thương yêu nhau và đoàn kết chống ngoại xâm mới mong thoát khỏi vòng nô lệ.

Thân mến,

DTQT. 01/11/2018.

Source: Nụ hồng cho Em – Dân Làm Báo < Please click.

CHINESES EATERIES.

Cùng Các Bạn,

     Mời Bạn xem video của một Chị Bạn ở Mỹ gởi cho Dã-Thảo hôm qua. Xem xong DT muốn post ngay, chia xẻ cùng các Bạn nhưng vì bận nên mới để đến hôm nay, tuy trễ còn hơn không. Mời Bạn click vào video bên dưới để thấy người tàu làm thức ăn rất bẩn rồi xuất khẩu đưa đi khắp nơi để bán, nhất là Việt Nam. Quê hương Việt Nam nhầy nhụa hàng độc, DT có một số Bạn về VN thăm gia đình trở lại Úc, vào bịnh viện nằm luôn vài tuần để trị bịnh ho và đau bụng. May mắn sau hơn một tuần nằm viện hai bà bạn về nhà bình yên. Thật tình mà nói, người Việt Nam mình cũng vì ham lợi nên dù biết hàng không tốt nhưng vẫn nhập vào, đã thế lại còn bắt chước cách làm lợi như những người tàu dối dang, đầu độc dân mình để làm giàu cho gia đình và có tiền đưa con đi qua du học xứ Mỹ giãy chết ngày nào!

     Chịu khó xem hết video, chừng vài phút thôi, Bạn sẽ thấy cách tẩm thuốc và nhất là những con ngỗng con tội nghiệp bị bỏ vào máy nghiền khi đương còn sống trông thật dã man. Đối với bọn tàu phù thì chẳng có gì gọi là dã man, mổ người đang sống để lấy nội tạng đem bán chúng còn chẳng chùn tay thì thấm gì những chú ngỗng con. Dã-Thảo cứ nghĩ nếu Việt Nam dưới sự đô hộ của tàu không biết trẻ em mới sanh có bị chúng bắt bỏ vào máy nghiền như vậy để chúng ăn lấy bổ hay không! Bạn ơi xem xong chuyền đi cho mọi người trong và ngoài nước xem với nhé. Cộng sản tàu ác lắm và cộng sản Việt Nam cũng chẳng thua gì.

Thân mến,

DTQT.  31/10/2018.

 

CHUYỆN NÊN LƯU Ý.

Cùng Các Bạn,

     Nhận được file này từ một chị bên Mỹ email cho sáng nay, Dã-Thảo đọc xong vội copy gởi đến Các Bạn để chia xẻ những điều chúng ta phải lưu ý hằng ngày. Những hóa chất độc hại của tàu cộng đang hằng ngày đầu độc người dân Việt, bài do Anh Lê Văn Hoàng viết. Và tiếp theo đó là một số hình ảnh về những thức ăn độc hại tại Việt Nam do Trúc Chi post.

Rất quan trọng!! Xin đọc, lưu ý và chuyển cho mọi người

So Important!! Please read, heed and pass it on.

  • No plastic wrap in microwaves. Không để gói, bao nhựa trong lò vi sóng
  • No plastic water bottles in freezers. Không bỏ chai nước nhựa trong ngăn đá.
  • Dioxin chemical causes cancer, especially breast cancer. Chất hóa học dioxin gây ra ung thư, nhất là ung thư ngực.
  • Dioxins are highly poisonous to cells in our bodies.

      A friend of ours became very sick after drinking water left in a car overnight and she was ill for a couple of months.No matter how many times you get this E-mail, please send it on!) Bottled water in your car is very dangerous!

     -Một người bạn của tôi bị đau nặng sau khi uống nước để qua đêm trên xe hơi. Bà ấy bị đau cả tháng. Nước trong chai trên xe hơi rất nguy hiểm.

     On the Ellen show, Sheryl Crow said that this is what caused her breast cancer. It has been identified as the most common cause of the high levels of dioxin in breast cancer tissue..

     —Trên chương trình Ellen, Sheryl nói rằng đó là lý do bệnh ung thư ngực của bà…. Người ta biết  rằng đó là điều thường thấy nhất  làm tăng lượng dioxin trong tiến trình ung thư ngực.

     Sheryl Crow’s oncologist told her: women should not drink bottled water that has been left in a car. The heat reacts with the chemicals in the plastic of the bottle which releases dioxin into the water. Dioxin is a toxin increasingly found in breast cancer tissue.

     – Bác sĩ ung thư của  Sheryl Crow bảo bà rằng: Đàn bà không nên uống nước để trong xe. Hơi nóng tác động lên hóa chất của chai nhựa tạo ra dioxin trong nước. Dioxin là một độc tố tăng trưởng được tìm thấy trong tiến trình ung thư ngực.

      So please be careful and do not drink bottled water that has been left in a car.

     – Bởi vậy, hãy cẩn thận, không uống nước trong chai ( nhựa ) để ở xe.

     Pass this on to all the women in your life This information is the kind we need to know that just might save us!

     – Hãy chuyển tin này cho tất cả phụ nữ bạn biết. Thông tin này là điều cần biết, nó có thể cứu chúng ta..

     Use a stainless steel canteen or a glass bottle instead of plastic!

    – Hãy dùng lon, bi đông bằng thép không rỉ, hoặc chai thủy tinh!

LET EVERYONE KNOW PLEASE!

– LÀM ƠN CHO MỌI NGƯỜI CÙNG BIẾT!

This information is also being circulated

at Walter Reed Army Medical  Center

Thông tin này cũng được lưu hành ở Trung tâm Y Tế Quân Đội Walter Seed.

No plastic containers in microwaves.

Không dùng chai, hộp nhựa trong lò vi sóng.

No plastic water bottles in freezers. 

Không bỏ chai nước nhựa trong ngăn đá..

No plastic wrap in microwaves

Không để gói, bao nhựa trong lò vi sóng

Dioxin chemical causes cancer, especially breast cancer.

Chất hóa học dioxin gây ra ung thư, nhất là ung thư ngực.

Dioxins are highly poisonous to cells in our bodies.

Dioxins tạo độc tố rất cao với các tế bào trong cơ thể chúng ta.

Don’t freeze plastic bottles with water in them as this releases dioxins from the plastic. Đừng làm đông đá nước trong những chai nhựa, vì nhựa sản sinh dioxin.

Recently the Wellness Program Manager at Castle Hospital , was on a TV program to explain this health hazard.

Mới đây, Giấm Đốc chương trinh Wellness của Bệnh Viện Castle, đã giải thích về chuyện ngẫu nhiên của sức khỏe này.

 He talked about dioxins and how bad they are for us.

He said that we should not be heating food in the microwave, using plastic

containers.

Ông nói về dioxin và những độc hại của chúng. Ông bảo chúng ta không nên hâm thức ăn .trong hộp nhựa ở lò vi sóng…

 This especially applies to foods that contain fat.

Điều này đặc biệt áp dụng cho những thức ăn chứa chất béo, có dầu, mỡ.

He said that the combination of fat, high heat and plastic releases dioxin into the food. Ông nói rằng hỗn hợp chất béo, nhiệt độ cao, và nhựa sẽ tạo dioxin trong thức ăn.

Instead, he recommends using glass, such as Pyrex or ceramic containers for heating food…You get the same result, but without the dioxin.

Thay vào đó, ông khuyên nên dùng thủy tinh, chẳng hạn Pyrex, hoặc sứ để đựng thức ăn khi hâm nóng. Kết quả như nhau, nhưng không có dioxin.

So, such things as TV dinners, instant soups, etc., should be removed from their containers and heated in something else.

Như vậy, những thứ như thức ăn tối TV, xúp, canh ăn liền v.v…nên bỏ bao bì, và hâm nóng trong những bát đĩa .

Paper isn’t bad but you don’t know what is in the paper. It’s safe to use tempered glass, such as Pyrex, etc.

Giấy không hại, nhưng bạn không biết có gì trong giấy. 

Do đó, an toàn nhất là dùng thủy tinh đã tôi luyện như Pyrex v.v…

He reminded us that a while ago some of the fast food restaurants moved away from the styrene foam containers to paper. The dioxin problem is one of the reasons…

Ông lưu ý chúng ta rằng đã có thời, một số các tiệm bán thức ăn nhanh đã phải loại bỏ những hộp xốp để dùng giấy Chất dioxin là một trong những lý do…

Also, he pointed out that plastic wrap, such as Cling film, is just as dangerous when placed over foods to be cooked in the microwave.

Cũng vậy, ông chỉ cho thấy bọc nhựa, chẳng hạn như Cling, thật nguy hiểm khi bao thức ăn để nấu trong lò vi sóng.

As the food is cooked, the high heat causes poisonous toxins to actually melt out of the plastic wrap and drip into the food..

Khi thức ăn chín, nhiệt độ cao tạo ra chất độc đẫm vào lớp bọc nhựa và thấm vào thức ăn.

Cover food with a paper towel instead.

Hãy bọc thức ăn với khăn giấy.

 This is an article that should be sent to anyone important in your life.*Very very very important*

Bài này nên gửi cho tất cả mọi người. Rất, rất, rất quan trọng.

Những hóa chất độc hại của Tàu Cộng đang hàng ngày đầu độc người dân Việt…

     Tại Việt Nam hiện nay những Hóa chất độc hại như thế nầy ĐƯỢC TỰ DO BÀY BÁN CÔNG KHAI khắp nơi trên đất nước. Thử hỏi nếu không có sự Dung túng, Bao che và Đồng lõa của Chính Quyền csVN thì ĐỐ AI DÁM BÁN. Đúng thế không Quí Vị.

     Phải chăng bọn tay sai bán nước csVN đã nhận chỉ thị từ Thiên Triều Đại hán là phải tiêu diệt Dân Tộc Việt Nam từ từ. Những Hóa chất nầy không làm người ta chết liền, mà làm cho con người rệu rã, mất Ý chí và Nghị Lực, không còn LÝ TRÍ VÀ BẢN LĨNH ĐỂ ĐỐI KHÁNG. Thế hệ con cháu của chúng ta sau nầy sẽ bị ẢNH HƯỠNG NẶNG NỀ . Người không ra Người, Ma không ra Ma.

     Coi như Chấm hết. Tuyệt Chủng.

     Quá Dã man và Vô nhân tính.

Lê văn Hoàng.

     Mời coi hình ảnh những hóa chất độc hại của Tàu Cộng tràn ngập Việt Nam để người dân hàng ngày tiêu thụ và sử dụng thì làm sao tránh khỏi bệnh ung thư.

bia gia

tay trang

Com tam hoa chatdua caixuc xichtiet vitcong nghe lam mamcom nhuombong bicu ren thay cu samthit heo thanh thit boduong trang thanh duong vangluoc bapVi ca map giaRuoc nhuom mauMti bom thuocSau riengYen trang thanh yen huyetgao moc thanh gao sangCha gioTuong otGung trung quocga vangbun rieumat ongRua rau

Posted by: Truc Chi

QUỐC HỘI VIỆT NAM NGỠ NGÀNG.

Cùng Bạn Bọc,

     Dã-Thảo lang thang trên net, nghe được tin này từ Chương Trình Khai Dân Trí của Liza Phạm nên đưa ngay vào trang nhà để mời bạn cùng nghe, thật hay giả chúng ta đều phải đợi. Nghe chuyện Việt Nam sao cảm thấy như chuyện giả tưởng! Nhưng không, mời Bạn click vào mũi tên để nghe và suy ngẫm chuyện nước nhà của chúng ta trước tai họa Hán hóa. Cầu mong Anh, Chị, Em trong nước mạnh dạn đứng lên chống bọn giặc tàu giữ lấy giang sơn Việt Nam để khỏi rơi vào vòng nô lệ. Mong lắm, mong lắm…

Thân mến, 

DTQT. 24/10/2018.

TRONG BÀN CỜ MỸ-TRUNG.

Cùng Bạn Đọc,

     Dã-Thảo nhận được file này của Anh Longkangaroo tuần vừa qua. Chuyện đã 45 năm, chỉ còn 5 năm là đúng nửa thế kỷ, nhưng chắc chắn không một người miền Nam Việt Nam nào có kiến thức mà không biết đến. Các Bạn đọc nhiều về nguyên nhân chúng ta mất nước, dĩ nhiên phải có nhiều nguyên nhân và đây là một trong những nguyên nhân đó: “Kissinger trong bàn cờ Mỹ-Trung”. Việt Nam hiện đang ở trong tình trạng hỗn loạn không biết mất nước về tay tàu cộng lúc nào vì, đất nước của chúng ta đã và đang bị bán cho tàu qua bàn tay của cộng sản việt nam. Dân chúng mất đất mất nhà, bị hành hung đối xử tàn bạo xảy ra hàng ngày bởi công an cộng sản VN mà dân không biết kêu cứu ở đâu, dẫu có kiện tụng kêu cứu đến chính quyền, vẫn chẳng có ai quan tâm. Nạn tham nhũng từ cấp trên đến làng xã thôn xóm, vậy đâu còn có ai để ý đến dân! Hy vọng một ngày chxhcn sụp đổ cho dân được nhờ. Mời Bạn đọc bài viết dưới đây của tác giả Tran Hung do Anh Longkangaroo Fwd. DT cảm ơn Anh Long và tác giả.

Thân mến,

DTQT. 18/10/2018.

Con cú đêm Kissinger trong bàn cờ Mỹ-Trung

     Người Việt có lương tâm không bao giờ quên mối thù sâu sắc với Kissinger; Vì hắn mà Vietnam Cộng Hoà tan rã, bao nhiêu người chết trong cuộc chiến kết thúc với Cộng sản 1975, bao nhiêu Anh Tài chết tức tưởi trong trại lao động tập trung, bao nhiêu người chết trên biển cả. Dĩ nhiên là tội ác Cộng sản phải kể đầu tiên, nhất là nguy cơ mất nước vào tay Trung cộng; nhưng tội đồ Kissinger đối với dân Việt thì ngàn đời con cháu của hắn cũng không trả hết tội!! May mà Trời còn thương dân Mỹ để có TT Trump!

     Làm ngược chiến lược của đêm Kissinger là quyết định sáng suốt của Donal Trump. Không ai không thể quên Kissinger, một con cú mèo chuyên đi đêm với Bắc Kinh trong vai trò cố vấn an ninh quốc gia và ngoại trưởng Hoa Kỳ thời chiến tranh Việt Nam và đến tận bây giờ. Kissinger đã có không dưới 80 lần đến Bắc Kinh so với tuổi đời 93.

     Khi Nixon ngồi vào Nhà Trắng, vai trò của Kissinger càng được Nixon nâng cao vì Nixon đã bị Kissinger thuyết phục phải kết thân với Trung Quốc để chống lại Liên Xô và cùng Trung Quốc chia đôi thế giới để cai trị. 

     Tài thuyết khách của Kissinger đã làm cho Nixon mê muội đến mức thốt lên tại cuộc phỏng vấn đăng trên tạp chí Time vào ngày 5/10/1970 rằng “Nếu có điều gì tôi muốn thực hiện trước khi từ trần, thì đó là đi thăm Trung Quốc. Nếu tôi không đi được, tôi muốn các con tôi sẽ đi”. Chính sự mê muội của Nixon-Kissinger đã dẫn đến một kết cục Mỹ đã rút khỏi Đông Dương, bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và có ý định dâng luôn Đài Loan cho Trung cộng, đồng thời với chính sách hữu hảo với Bắc Kinh của Mỹ do Kissinger đạo diễn đã tạo điều kiện cho Trung cộng vươn lên uy hiếp ngôi vị số 1 của Mỹ như hiện nay. 

     Rất may cho nước Mỹ và nhân loại là học thuyết chết dưới tay Trung Quốc đã được tín nhiệm và nước Mỹ đã sáng suốt bầu lên một tổng thống bất thường là tỷ phú Donald Trump, bằng kinh nghiệm thương trường lão luyện cùng với sự cố vấn đặc biệt của các tinh tú trong Đảng Cộng Hòa, 

     Trump không khó nhận diện được kẻ thù trực tiếp và cực kỳ nguy hiểm đe dọa sự tồn vong của Mỹ và nhân loại không ai khác chính là Trung Quốc. 

     Một kế hoạch phản đòn hoàn hảo nhắm vào Trung Quốc theo cách gậy ông đập lưng ông đã được Trump và êkíp vạch ra, con cú đêm Kissinger là mũi tên được chọn tiên phong để bắn tin cho Bắc Kinh. 

     Một bản kế hoạch hợp tác có điều kiện đã được Trump và cộng sự soạn thảo, một cuộc gặp mặt với Kissinger đã được Trump chuẩn thuận, sau khi được gặp Trump, mộc lão già gần đất xa trời là Kissinger đã tức tốc bay sang Bắc Kinh để diện kiến Tập Cận Bình và được cánh tay phải của Tập là Vương Kỳ Sơn tiếp đãi trọng thị kèm với những món quà là những gói thần dược “cải lão hoàn đồng” là thứ mà Kissinger rất quý vì lão ta là kẻ rất tham sống, sợ chết. 

     Từ Bắc Kinh trở về, Kissinger đã trao cho Trump những điều đồng thuận và bất nghịch mà Tập Cận Bình phê vào bản đề xuất của Trump, những điểm căn bản như giải giáp hạt nhân của Bắc Hàn; san bằng thâm hụt thương mại; quân sự hóa Châu Á – Thái Bình Dương (gồm Biển Đông) và độc lập của Đài Loan đã bị Bắc Kinh khước từ. 

      Một sự giận dữ đã bùng phát và Nhà Trắng đã ban bố chiến lược an ninh quốc phòng NSS nêu đích danh và đưa Trung quốc lên đầu sổ kẻ thù và là kẻ phá vỡ trật tự thế giới

      Chuyến đi của Kissinger sang Bắc Kinh sau khi Trump tuyên thệ nhậm chức còn có vai trò dàn xếp một cuộc hội kiến của Tập với Trump tại Nhà Trắng, tuy nhiên những yêu cầu của Trump mà Kissinger mang sang Bắc Kinh đã không đáp ứng kỳ vọng của Mỹ, nên sau đó Trump đã miễn cưỡng tiếp Tập không theo nghi lễ tiếp đón một nguyên thủ của một cường quốc mà tiếp đón ở nhà riêng là khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago, bang Florida, thua xa cả việc sau đó Trump đã tiếp Nguyễn Xuân Phúc ở Nhà Trắng. 

     Lý do Trump tiếp Tập ở nhà riêng vì theo Trump chuyện hai nước mà Kissinger mang sang Bắc Kinh không được Tập nhìn nhận nghiêm túc nên Trump không tiếp Tập ở Nhà Trắng để bàn quốc gia đại sự mà chỉ tiếp ở nhà riêng để bàn việc riêng. 

     Trong bản kế hoạch mà Trump giao cho Kissinger mang sang Bắc Kinh, một nửa nội dung là chính kiến của Trump và Ban cố vấn, một nửa là ý kiến của cá nhân Kissinger, kết quả là ý kiến của Trump không được Tập đồng thuận nhưng ý kiến của Kissinger được Tập nhất trí cao. 

     Một điểm đặc biệt trong ý kiến của Kissinger đó là buộc nước Mỹ phải bỏ rơi Đài Loan như đã từng bỏ miền Nam Việt Nam đổi lại Trung quốc sẽ bỏ rơi Bắc Hàn với điều kiện nước Mỹ không đá động đến thâm hụt thương mại. 

      Tiếc rằng hai điều kiện này của Kissinger và Tập đã đi ngược với tôn chỉ nước Mỹ là trên hết của tổng thống Trump, điều Trump quyết làm ở nhiệm kỳ đầu tiên là loại bỏ hạt nhân ở các tiểu quốc độc tài và san bằng thâm hụt thương mại của nước Mỹ, dạy cho các nước thương mại gian lận trở thành thương mại tử tế. 

     Không như tổng thống Nixon, tổng thống Trump và cộng sự luôn làm ngược yêu sách của đối phương, ở đây là làm ngược yêu cầu của Kissinger và Tập Cận Bình, Vương Kỳ Sơn. 

     Về phía Kissinger, đến sau khi Trump đã ban hành chính sách an ninh quốc gia xác định Trung quốc là kẻ xấu nhưng lão ta vẫn chưa từ bỏ tham vọng nối kết Mỹ-Trung mà cả cuộc đời hắn luôn đeo đuổi. 

     Một điều minh chứng cho hảo vọng của Tập Cận Bình trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ theo sự mách bảo của Kissinger đó là Tập đã lôi cánh tay đắc lực Vương Kỳ Sơn trở lại chính trường vì Vương Kỳ Sơn là thân tín của cú đêm Kissinger.

     Một điểm bất thường trong chính trường TQ đó là tại đại hội đảng cs TQ hồi tháng 12 năm 2017 không còn có tên Vương Kỳ Sơn trong Thường vụ Bộ Chính trị và Bộ Chính trị, nhưng sau đó Vương Kỳ Sơn lại được bầu làm đại biểu Quốc hội và vào ngày 17/3/2018 đã được bầu làm phó chủ tịch nước.

      Mục đích kéo Vương Kỳ Sơn trở lại chính trường là để giúp Tập Cận Bình xoa dịu căng thẳng với Hoa Kỳ vì Vương Kỳ Sơn là môn đồ của cú đêm Kissinger. Tuy nhiên, lịch sử sẽ không lập lại, cú đêm Kissinger không lay chuyển được Trump và cộng sự để giúp Trung cộng thoát hiểm, ngược lại Trump và cộng sự lại lợi dụng con cú đêm Kissinger để thi triển chiêu thức gậy ông đập lưng ông

       Trump luôn làm ngược nhã ý của đối phương để giành chiến thắng, đưa nước Mỹ lên trên hết, giải phóng độc tài, đập tan thành trì cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản quái thai. 

Tran Hung.

     *******

     Anh Chị Em ơi, cùng nhau đứng lên chống bọn giặc tàu, đừng để bọn cộng sản gian tham bán nước hại dân. Cầu cho dân oan lấy lại đất nhà, cầu cho nam nữ thanh niên không phải bị xuất khẩu lao động, các em gái nhỏ không phải hy sinh bán xác nuôi thân, gia đình và cha mẹ anh em nữa, tội các em quá!

     Cầu cho giới lãnh đạo VN nhìn thấy phải trái quay về với dân, 43 năm quá lâu rồi. “Quân Đội Nhân Dân Anh Ở Đâu?”

DTQT. 18/10/2018.

2-768x546.jpg zebra Longwind Butterfly